chương 1 Nội dung của chương này nghiên cứu tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến minh bạch thông tin trên BCTC và xác định các nhân tố ảnh hưởng đến minh bạch thông tin trên BCTC công của thế giới và Việt Nam. Việc chọn lọc tổng hợp và đánh giá các công trình nghiên cứu có liên quan đến nội dung nghiên cứu được trình bày trong luận văn này. Qua đó, xác định khe hỏng làm cơ sở cho mục tiêu nghiên cứu của luận văn. Mặc dù, đã có nghiên cứu nâng cao tính minh bạch của thông tin trên báo cáo tài chính đối với các trường đại học và cao đẳng công lập tại Việt Nam.
Tuy nhiên, cũng cần có thêm nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến minh bạch báo cáo tài chính tại các Ủy Ban Nhân Dân nhằm nâng cao trách nhiệm giải trình, hướng đến đối tượng sử dụng thông tin trên báo cáo ngân sách là nhân dân. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 15 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH ÁP DỤNG CHO KHU VỰC CÔNG 2. Tổng quan về BCTC khu vực công và Chuẩn mực kế toán công quốc tế 2. Khái niệm về BCTC khu vực công Theo International Public Sector Accounting Standards Board (2013), BCTC khu vực công là các báo cáo được trình bày theo một cấu trúc chặt chẽ về tình hình tài chính của đơn vị và các giao dịch được thực hiện bởi một đơn vị thuộc khu vực công.
Mục đích của BCTC là cung cấp những thông tin về tình hình tài chính, tình hình hoạt động và các luồng tiền của một đơn vị thuộc khu vực công. Phân loại BCTC khu vực công BCTC khu vực công theo IPSASs được chia làm 2 loại: Báo cáo tài chính cho mục đích chung và báo cáo tài chính cho mục đích đặc biệt. Báo cáo tài chính cho mục đích chung: công bố thông tin đến công dân, các đối tượng công chúng, không nhằm thỏa mãn mục đích cá nhân. Báo cáo tài chính cho mục đích đặc biệt: cung cấp thông tin cho các đối tượng là các cơ quan có thẩm quyền thực hiện chức năng quản lý, giám sát, những người có quyền yêu cầu cung cấp thông tin theo yêu cầu riêng của họ.
Mục đích của BCTC khu vực công Mục đích của BCTC khu vực công là “cung cấp thông tin hữu ích cho người sử dụng trong việc ra quyết định và trách nhiệm giải trình”. Theo IFAC (2014), sự thiếu minh bạch và trách nhiệm giải trình làm ảnh hưởng nghiêm trọng tính hiệu quả quản trị tài chính trong khu vực công. Vì vậy, IFAC liên tục thúc đẩy sự cần thiết phải tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong khu vực công của các quốc gia trên toàn thế giới, đặc biệt các quốc gia đang phát triển. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 16 Xuất phát từ môi trường hoạt động, nguồn lực và quy trình kiểm soát nên có sự khác biệt giữa kế toán trong khu vực công và kế toán tại các doanh nghiệp.
Tại các đơn vị công thì một vấn đề chung được đặt ra là làm thế nào để sử dụng nguồn lực đúng mục tiêu phúc lợi xã hội, hướng đến các số liệu cung cấp hữu ích cho trách nhiệm giải trình tài chính của đơn vị.15-16), mục tiêu của BCTC khu vực công cụ thể như sau: - Cung cấp thông tin về các nguồn, phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính. - Cung cấp thông tin về cách thức tổ chức tài trợ các hoạt động của mình và đáp ứng yêu cầu tiền mặt. - Cung cấp thông tin hữu ích trong việc đánh giá khả năng tài chính hoạt động của mình để đáp ứng nợ và cam kết. - Cung cấp thông tin về tình trạng tài chính của đơn vị và những thay đổi - Cung cấp thông tin tổng hợp hữu ích trong việc đánh giá hiệu suất của đơn vị về chi phí dịch vụ, hiệu quả và thành tựu.
- BCTC cũng có thể giữ vai trò dự báo, cung cấp thông tin hữu ích trong việc dự đoán nguồn lực cần thiết để tiếp tục hoạt động và những rủi ro, sự không chắc chắn có liên quan. BCTC có thể cung cấp cho người sử dụng các thông tin: + Cho biết thu và sử dụng nguồn lực có phù hợp với quy định ngân sách? + Cho biết liệu các nguồn thu có được sử dụng phù hợp với các yêu cầu pháp lý và hợp đồng bao gồm giới hạn tài chính được thiết lập bởi các cơ quan pháp luật? + Để đạt được những mục tiêu trên, BCTC phải cung cấp thông tin về Tài sản, Nợ phải trả, Tài sản thuần, Thu nhập, Chi phí, Thay đổi trong tài sản thuần, vốn chủ sở hữu và Lưu chuyển tiền tệ. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Đặc tính thông tin trình bày trên BCTC khu vực công Theo IPSASs và Khuôn mẫu lý thuyết kế toán công quốc tế thì BCTC bao gồm những đặc điểm sau: - Tính dễ hiểu: Các thông tin trong báo cáo cung cấp phải dễ hiểu đối với người sử dụng để họ có thể hiểu được ý nghĩa chung, hiểu được các hoạt động của đơn vị và môi trường làm việc.
BCTC của tổ chức công nên được trình bày bằng ngôn ngữ đơn giản, dễ hiểu để đáp ứng nhu cầu và kiến thức của người sử dụng. Người sử dụng BCTC khu vực công được giả định là có kiến thức phù hợp có thể và sẵn sàng đọc, xem xét và phân tích thông tin được trình bày trên BCTC một cách tích cực, hợp lý. - Tính phù hợp và đáng tin cậy: Để thông tin trên báo cáo trở nên có ích cho người sử dụng, các thông tin trình bày trên báo cáo phải thích hợp với người sử dụng để họ có thể đánh giá được các sự kiện ở quá khứ, hiện tại và tương lai. Do đó, thời gian cung cấp thông tin cần kịp thời, lợi ích từ việc sử dụng thông tin phải lớn hơn chi phí bỏ ra cho việc tìm kiếm thông tin.
Ví dụ, thông tin sẽ phù hợp cho mục đích trách nhiệm và ra quyết định nếu nó xác nhận vấn đề như mức độ hoàn thành trách nhiệm của nhà quản lý đến việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực, thực hiện mục tiêu cung ứng dịch vụ và tuân thủ luật ngân sách có liên quan… - Tính trung thực: các thông tin trình bày trung thực các giao dịch và các sự kiện phát sinh, không có các lỗi cơ bản hay bị bóp méo. - Tính khách quan: Để có độ tin cậy cao, thông tin trình bày trên báo cáo phải khách quan, không được xuyên tạc hoặc bóp méo một cách cố ý thực trạng của đơn vị. Các báo cáo sẽ không được coi là khách quan nếu việc lựa chọn hoặc trình bày có ảnh hưởng đến việc ra quyết định hoặc xét đoán và cách lựa chọn trình bày đó nhằm đạt đến kết quả mà người lập báo cáo đã biết trước. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 18 - Tính so sánh được: Các thông tin do hệ thống báo cáo cung cấp phải đảm bảo cho người sử dụng có thể so sánh chúng với các kỳ trước, kỳ kế hoạch để xác định được xu hướng biến động thay đổi các sự kiện trong tương lai.
Ngoài ra, người sử dụng cũng có nhu cầu so sánh báo cáo giữa các đơn vị để đánh giá công tác quản lý cũng như so sánh thông tin khi có sự thay đổi về cơ chế chính sách, điều hành mà mỗi đơn vị áp dụng. - Tính kịp thời: là trạng thái thông tin sẵn sàng cho người sử dụng, kịp thời cho mục đích ra quyết định và trách nhiệm giải trình; thiếu kịp thời làm cho thông tin thiếu hữu ích (International Public Sector Accounting Standard Board, 2013). - Tính có thể kiểm chứng: nhằm đảm bảo thông tin trên BCTC được trình bày trung thực các sự kiện kinh tế và các sự kiện khác, giúp cho người sử dụng thông tin nhận được sự phù hợp của những giả định và phương pháp soạn thảo, đo lường, trình bày và giải thích các thông tin. Có thể kiểm chứng có nghĩa là một vài đo lường độc lập cũng đạt được cùng kết quả đo lường kế toán mà đơn vị áp dụng (Flood và Joanne M, 2003).
Nguyên tắc lập và trình bày Báo cáo tài chính là sản phẩm cuối cùng của quá trình quyết toán thực hiện ngân sách nhà nước của các đơn vị. Tất cả các phần hành kế toán đều có mục đích chung là phản ánh quá trình thực hiện ngân sách, các giao dịch và sự kiện phát sinh trong kỳ để lập và trình bày báo cáo ngân sách. Vì vậy, việc trình bày thông tin trên báo cáo tài chính phải tuân thủ các nguyên tắc chung sau: Hoạt động liên tục: các báo cáo cần phải lập dựa trên cơ sở đơn vị đang hoạt động liên tục trừ khi đơn vị có ý định giải thể hoặc ngưng hoạt động. Trình bày nhất quán: Để đảm bảo tính thống nhất và khả năng so sánh được của các thông tin trên báo cáo tài chính thì việc trình bày và phân loại các TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 19 khoản mục trên báo cáo tài chính phải quán triệt nguyên tắc nhất quán giữa các niên độ kế toán.
Nếu thay đổi phải có thông báo trước và phải giải trình trong thuyết minh BCTC. Trọng yếu và tổng hợp: Trọng yếu là khái niệm về độ lớn và bản chất của thông tin mà trong trường hợp nếu bỏ qua các thông tin này để xét đoán thì có thể dẫn đến các quyết định sai lầm. Do vậy, nguyên tắc này đòi hỏi những thông tin trọng yếu riêng lẻ không được sáp nhập với những thông tin khác mà phải trình bày riêng biệt. Ngược lại những thông tin đơn lẻ không trọng yếu, có thể tổng hợp được thì cần được phản ánh dưới dạng thông tin tổng quát.
Bù trừ: theo nguyên tắc này khi lập các báo cáo tài chính không được phép bù trừ giữa tài sản và các khoản công nợ, giữa thu nhập với chi phí. Trong trường hợp vẫn tiến hành bù trừ giữa các khoản này thì phải dựa trên cơ sở tính trọng yếu và phải diễn giải trong thuyết minh BCTC. Trong quá trình lập hệ thống báo cáo tài chính phải đảm bảo thực hiện đồng thời các nguyên tắc trên vì chúng có mối liên hệ mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau, làm cơ sở để các báo cáo tài chính cung cấp được những thông tin tin cậy, đầy đủ, kịp thời và phù hợp với yêu cầu của người sử dụng trong việc ra quyết định. Cấu trúc của BCTC khu vực công BCTC đối với khu vực công theo International Public Sector Accounting Standards Board (2006), bao gồm các biểu mẫu: 2.