Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ VÀ MIỄN HÌNH PHẠT 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ VÀ MIỄN HÌNH PHẠT 1. Khái niệm, đặc điểm của miễn trách nhiệm hình sự và phân biệt miễn trách nhiệm hình sự với một số khái niệm khác Là một trong những chế định quan trọng của pháp luật hình sự Việt Nam, miễn trách nhiệm hình sự đã được ghi ngay trong lần pháp điển hóa đầu tiên bằng việc thông qua Bộ luật hình sự năm 1985; cho đến Bộ luật hình sự năm 1999, các quy định về miễn trách nhiệm hình sự ngày càng được bổ sung và hoàn thiện cho phù hợp hơn với thực tiễn áp dụng pháp luật của nước ta. Tuy nhiên, xét trên phương diện lập pháp cho thấy chế định này vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu một cách sâu sắc và toàn diện, điều này được thể hiện trước hết ở chỗ mặc dù đã trải qua hai lần pháp điển hóa pháp luật hình sự nhưng khái niệm pháp lý của miễn trách nhiệm hình sự chưa bao giờ được ghi nhận trong pháp luật thực định.
Trong khoa học luật hình sự Việt Nam xung quanh vấn đề khái niệm của miễn trách nhiệm hình sự còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau: - Quan điểm thứ nhất cho rằng miễn trách nhiệm hình sự là miễn kết tội đối với người có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm: “Miễn trách nhiệm hình sự là không buộc tội một người chịu trách nhiệm hình sự về tội mà họ đã thực hiện” [25, tr.321]; hoặc “miễn trách nhiệm hình sự là miễn kết tội cũng như áp dụng hình phạt đối với người thực hiện tội phạm và do vậy họ không bị coi là có tội”[11, tr. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nếu theo lôgic pháp lý thì việc áp dụng miễn trách nhiệm hình sự phải xuất phát từ việc áp dụng trách nhiệm hình sự, hay nói cách khác không thể áp dụng miễn trách nhiệm hình sự khi chưa đủ căn cứ để khẳng định một người phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đã phạm hoặc đối với người không phải chịu trách nhiệm hình sự (các trường hợp loại trừ tính chất tội phạm của hành vi). Trách nhiệm hình sự chỉ chính thức được thực hiện khi bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật nên miễn trách nhiệm hình sự cũng phải do Tòa án quyết định: khi nhận thấy có căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự cho một người thì trước hết Tòa án phải tuyên người đó phạm tội cụ thể sau đó mới xét đến việc áp dụng miễn trách nhiệm hình sự cho người đó. Tuy nhiên, pháp luật tố tụng hình sự hiện hành quy định không chỉ Tòa án mà cả Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát cũng có quyền áp dụng chế định miễn trách nhiệm hình sự; đây cũng là vấn đề mà các nhà lập pháp cần xem xét thêm trong quá trình hoàn thiện pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự trong thời gian tới đây.
- Quan điểm thứ hai cho rằng miễn trách nhiệm hình sự là không truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc miễn truy cứu trách nhiệm hình sự: “miễn trách nhiệm hình sự là không truy cứu trách nhiệm hình sự một người về việc đã thực hiện tội phạm được quy định trong Luật hình sự, thể hiện trong một văn bản của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền” [20, tr.]; “miễn trách nhiệm hình sự là miễn truy cứu trách nhiệm hình sự và đương nhiên kéo theo cả miễn phải chịu hậu quả tiếp theo do việc thực hiện trách nhiệm hình sự từ phía Nhà nước đem lại như: miễn bị kết tội, miễn phải chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự và miễn bị mang án tích. Trên thực tế có thể có trường hợp người phạm tội được Tòa án miễn trách nhiệm trong giai đoạn xét xử. Trong trường hợp này, miễn trách nhiệm hình sự chỉ bao gồm 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com miễn chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự và miễn mang án tích”[19, tr. Truy cứu trách nhiệm hình sự là tổng thể hoạt động của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án nhằm xác định trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.
Đây là một quá trình với nhiều giai đoạn kế tiếp nhau và được bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố bị can. Ở giai đoạn điều tra hoặc truy tố nếu có căn cứ để miễn trách nhiệm cho bị can thì cơ quan có thẩm quyền sẽ ra quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án. Trong trường hợp này, mặc dù hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ không tiếp tục được thực hiện nhưng người phạm tội thực tế đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự; do đó không thể đồng nhất giữa miễn trách nhiệm hình sự với miễn truy cứu trách nhiệm hình sự. - Quan điểm thứ ba cho rằng miễn trách nhiệm hình sự việc xóa bỏ (miễn) hậu quả pháp lý của tội phạm: “Miễn trách nhiệm hình sự là một chế định nhân đạo của Luật hình sự Việt Nam và được thể hiện bằng việc xóa bỏ hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị Luật hình sự cấm đối với người bị coi là lỗi trong việc thực hiện hành vi đó” [8, tr.753]; “miễn trách nhiệm hình sự là miễn hậu quả pháp lý đối với một tội phạm do pháp luật quy định” [28, tr.269]; “miễn trách nhiệm hình sự là không buộc một người gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi do việc người đó đã thực hiện hành vi phạm tội, mà vẫn đảm bảo yêu cầu đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, cũng như công tác giáo dục, cải tạo người phạm tội” [35, tr.71] Hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm là người thực hiện hành vi phải chịu trách nhiệm hình sự - dạng trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất so với bất kỳ dạng trách nhiệm pháp lý nào khác.
Theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 thì hệ thống các dạng trách nhiệm hình sự bao gồm: các biện pháp cưỡng chế về hình sự nghiêm khắc nhất (các hình phạt chính và 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hình phạt bổ sung và nếu chủ thể bị kết án và phải chịu hình phạt thì người đó còn bị coi là có án tích); các biện pháp cưỡng chế về hình sự khác – các biện pháp cưỡng chế về hình sự ít nghiêm khắc hơn hình phạt (các biện pháp tư pháp chung và các biện pháp tư pháp có tính chất giáo dục đối với người chưa thành niên phạm tội – các biện pháp thay thế hình phạt). Do đó, nếu một người được miễn trách nhiệm hình sự thì họ sẽ được loại trừ toàn bộ các hậu quả pháp lý nêu trên, đồng thời họ không có án tích. Cần lưu ý rằng miễn trách nhiệm hình sự là miễn hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm chứ không phải là hậu quả của tội phạm - “sự gây thiệt hại cụ thể nhất định đáng kể do hành vi phạm tội gây ra cho các lợi ích (khách thể) được bảo vệ bằng pháp luật hình sự” [8, tr 367]. Dưới góc độ nghiên cứu khoa học, chúng tôi đưa ra khái niệm về miễn trách nhiệm hình sự như sau: “miễn trách nhiệm hình sự là một chế định nhân đạo của Luật hình sự do cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền tùy thuộc vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng áp dụng và nhằm hủy bỏ hậu quả pháp lý hình sự của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho bị Luật hình sự cấm đối với người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó”.
Xuất phát từ khái niệm đã nêu, đồng thời trên cơ sở phân tích các quy phạm pháp luật hình sự hiện hành có liên quan đến việc giải quyết vấn đề miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự năm 1999 cho phép chỉ ra năm đặc điểm cơ bản như sau: - Đặc điểm thứ nhất, miễn trách nhiệm hình sự là chế định phản ánh rõ nét nhất nguyên tắc nhân đạo của chính sách hình sự nói chung và của pháp luật hình sự nói riêng; cùng với các chế định khác như các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, đại xá, đặc xá… thể hiện nguyên tắc “nghiêm trị kết hợp 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com với khoan hồng, trừng trị kết hợp với giáo dục thuyết phục” xuyên suốt trong chính sách pháp luật hình sự của Nhà nước ta. Miễn trách nhiệm hình sự là sự khoan hồng của Nhà nước ta đối với người phạm tội cũng như hành vi phạm tội của họ. - Đặc điểm thứ hai, miễn trách nhiệm hình sự chỉ có thể được đặt ra đối với người mà hành vi của họ thỏa mãn các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể được quy định trong phần tội phạm Bộ luật hình sự, đồng thời họ lại có những căn cứ và những điều kiện do luật định để không phải gánh chịu hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm đó. - Đặc điểm thứ ba, người được miễn trách nhiệm hình sự mặc dù không phải gánh chịu các hậu quả pháp lý hình sự của hành vi phạm tội mà mình đã thực hiện như không phải chịu hình phạt – biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước hay các biện pháp tư pháp, đồng thời cũng không bị coi là có án tích nhưng họ vẫn có thể phải chịu một hoặc nhiều biện pháp tác động khác về mặt pháp lý thuộc các ngành luật tương ứng khác vào thời điểm trước hoặc sau khi miễn trách nhiệm hình sự.
- Đặc điểm thứ tư, đối tượng được áp dụng chế định miễn trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật hình sự chỉ có thể là cá nhân người phạm tội thỏa mãn điều kiện luật định: là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm bị luật hình sự cấm; mặt khác, họ lại đáp ứng được những điều kiện cụ thể được quy định tại phần chung cũng như phần tội phạm của Bộ luật hình sự. - Đặc điểm thứ năm, miễn trách nhiệm hình sự chỉ do một cơ quan tư pháp có thẩm quyền nhất định (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án) áp dụng phụ thuộc vào từng giai đoạn tố tụng tương ứng cụ thể khi có đầy đủ 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.