Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, Ý NGHĨA CỦA CHẾ ĐỊNH TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ VÀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm của chế định trách nhiệm hình sự a. Khái niệm trách nhiệm hình sự Trong khoa học luật hình sự từ trước đến nay, xung quanh vấn đề khái niệm TNHS giữa các nhà hình sự học vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau dưới đây: - Trong khoa học luật hình sự của Liên Xô trước đây và Liên bang Nga hiện nay có một số quan điểm chính về TNHS như sau: + "Trách nhiệm hình sự là một giai đoạn nhất định của việc thực hiện các quyền và các nghĩa vụ bởi các chủ thể của quan hệ pháp luật hình sự khi mà người phạm tội bị cưỡng chế đối với việc phải những sự tước bỏ nhất định" [Dẫn theo 7, tr.
+ "Trách nhiệm hình sự là nghĩa vụ của người phạm tội phải chịu các biện pháp cưỡng chế Nhà nước" [Dẫn theo 7, tr. + "Trách nhiệm hình sự là tác động có tính chất cưỡng chế - Nhà nước do quy phạm pháp luật hình sự quy định và được áp dụng đối với người phạm tội bằng bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án" [Dẫn theo 7, tr. + "Trách nhiệm hình sự là hậu quả bất lợi do luật quy định đối với người phạm tội được tuyên bằng bản án của Tòa án đối với người phạm tội, được thể hiện chính trong việc kết án hoặc kết án có kèm theo hình phạt và án tích" [Dẫn theo 7, tr. 607] 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Trong khoa học luật hình sự Việt Nam cho đến nay có bốn quan điểm chủ yếu về TNHS như sau: + GS.TSKH Đào Trí Úc: "Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc phạm tội, thể hiện ở chỗ người đã gây ra tội phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình trước nhà nước" [35, tr.
TS Đỗ Ngọc Quang: “Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý, là trách nhiệm của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong pháp luật hình sự bằng một hậu quả bất lợi do Tòa án áp dụng tùy thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà ng- ười đó đã thực hiện”[22, tr. TSKH Lê Cảm: "Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định" [1, tr.TS Nguyễn Ngọc Hòa và PGS.TS Lê Thị Sơn: “Trách nhiệm hình sự là một dạng của trách nhiệm pháp lý bao gồm nghĩa vụ phải chịu sự tác động của hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự (hình phạt, biện pháp tư pháp) và chịu mang án tích [13, tr. Như vậy, từ các quan điểm khác nhau, trên cơ sở phân tích khoa học khái niệm TNHS, chúng tôi đưa ra khái niệm TNHS như sau: TNHS là hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm và hậu quả pháp lý ấy được thể hiện trong việc Tòa án nhân danh Nhà nước kết án người đã bị coi là có lỗi trong việc thực hiện tội phạm đó, còn người bị kết án phải chịu sự tác động về mặt pháp lý hình sự theo một trình tự tố tụng riêng [7, tr. Các đặc điểm cơ bản của trách nhiệm hình sự 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm khoa học về khái niệm TNHS, đồng thời căn cứ vào các quy phạm PLHS Việt Nam liên quan đến việc giải quyết vấn đề TNHS và thực tiễn áp dụng các quy phạm ấy, chúng ta có thể rút ra được các đặc điểm cơ bản của trách nhiệm hình sau đây: - Đặc điểm thứ nhất: Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi bị luật hình sự coi là tội phạm.
Trách nhiệm hình sự chỉ có thể được áp dụng đối với người thực hiện hành vi bị luật hình sự coi là tội phạm, nghĩa là việc thực hiện hành vi thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được quy định trong luật hình sự. Như vậy, không có việc thực hiện hành vi bị luật hình sự coi là tội phạm thì không thể có trách nhiệm hình sự - Đặc điểm thứ hai: Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm của cá nhân người phạm tội. Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, pháp luật hình sự nước ta mới chỉ thừa nhận trách nhiệm hình sự của cá nhân mà chưa coi pháp nhân là chủ thể của tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự. - Đặc điểm thứ ba: Trách nhiệm hình sự được thể hiện ở bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật và một số biện pháp cưỡng chế hình sự khác do luật hình sự quy định.
Trách nhiệm hình sự thể hiện mối quan hệ giữa Nhà nước (thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền) và người phạm tội. Nếu không có bản án kết tội của Tòa án thì không thể nói đến trách nhiệm hình sự đối với một người. Điều 72 Hiến pháp năm 1992 của nước ta đã khẳng định một trong những nguyên tắc quan trọng nhằm bảo vệ các quyền của con người trong hoạt động tư pháp hình sự - nguyên tắc suy đoán vô tội, với nội dung như sau: "Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Nguyên tắc này cũng đã được ghi nhận tương tự tại Điều 9 Bộ luật tố tụng hình sự.
TNHS được thực hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do BLHS quy định, có thể là hình phạt hoặc biện pháp tư pháp. - Đặc điểm thứ tư: Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm trước Nhà nước, kết quả của việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự, được xác định và thực hiện theo một trình tự, thủ tục đặc biệt do pháp luật tố tụng hình sự quy định. 29] TNHS được thực hiện trong phạm vi của quan hệ PLHS giữa Nhà nước và người phạm tội với tính chất là hai chủ thể có các quyền và nghĩa vụ nhất định. Hơn nữa, TNHS được xác định theo một trình tự, thủ tục đặc biệt do pháp luật tố tụng hình sự quy định được thực hiện bởi cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) 1.
Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của chế định miễn trách nhiệm hình sự a. Khái niệm của miễn trách nhiệm hình sự Trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự là hai chế định của luật hình sự có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Cơ sở của trách nhiệm hình sự là việc thực hiện hành vi thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được quy định trong luật hình sự, song không phải cứ hành vi thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm thì người thực hiện hành vi đều phải chịu trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp một người thực hiện hành vi thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được quy định trong luật hình sự, nhưng xét thấy trường hợp đó không cần phải áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người đó vẫn có thể đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, thì nhà làm luật sẽ quy định trường hợp đó được miễn trách nhiệm hình sự.
Khái 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com niệm miễn trách nhiệm hình sự xuất phát từ khái niệm trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, trong BLHS 1985 và BLHS năm 1999, đều không ghi nhận khái niệm miễn TNHS. Dưới góc độ khoa học luật hình sự, có một số quan điểm khác nhau về miễn TNHS, cụ thể là: - Miễn TNHS là "một chế định nhân đạo của luật hình sự Việt Nam và được thể hiện bằng việc xóa bỏ hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm đối với người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó" [2, tr. 7]; - Miễn TNHS là "không truy cứu trách nhiệm hình sự một người về việc đã thực hiện một tội phạm được quy định trong luật hình sự, thể hiện trong một văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền" [31, tr.
238]; - Miễn TNHS là "miễn những hậu quả pháp lý đối với một tội phạm do pháp luật quy định" [35, tr. 269]; - Miễn TNHS là "không buộc tội một người chịu trách nhiệm hình sự về tội mà họ đã thực hiện" [34, tr. 321]; - Miễn TNHS là "miễn kết tội cũng như áp dụng hình phạt đối với người thực hiện tội phạm và do vậy họ không bị coi là có tội" [9, tr. 14]; Như vậy, từ những quan điểm nêu trên theo chúng tôi, miễn TNHS được hiểu là việc cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền tùy thuộc vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng không buộc một người đáp ứng những điều kiện nhất định phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi do phạm tội, nếu xét thấy việc truy cứu TNHS người đó là không cần thiết mà vẫn bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng và chống tội phạm, cũng như giáo dục, cải tạo người phạm tội.
Các đặc điểm cơ bản của miễn trách nhiệm hình sự 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Từ khái niệm nêu trên kết hợp với việc nghiên cứu những quy định của PLHS Việt Nam hiện hành về miễn TNHS, chúng ta có thể rút ra một số đặc điểm cơ bản sau đây: Một là, miễn TNHS là một trong những chế định phản ánh rõ nét nguyên tắc nhân đạo của luật hình sự Việt Nam. Bên cạnh các chế định khác như: Các trường hợp loại trừ TNHS, các tình tiết giảm nhẹ TNHS, miễn hình phạt, thời hiệu truy cứu TNHS…thì miễn TNHS thể hiện nguyên tắc nhân đạo đối với người phạm tội, bởi pháp luật hình sự không chỉ có biện pháp trừng phạt mà còn kết hợp biện pháp giáo dục, cải tạo, khoan hồng với người phạm tội chưa đến mức phải truy cứu TNHS.