Chương 1 KHÁI NIỆM MẶT KHÁCH QUAN VÀ DẤU HIỆU HÀNH VI KHÁCH QUAN CỦA TỘI PHẠM 1. Khái niệm, ý nghĩa của việc nghiên cứu mặt khách quan của tội phạm Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, trong bất kỳ thời đại nào, vai trò của con người luôn được khẳng định trong mọi hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn. Chỉ có con người với ý thức của mình mới có thể nhận thức được thế giới, tác động vào thế giới để cải tạo nó theo mục đích của mình. Sự tồn tại của con người trong thế giới vật chất cho thấy rằng, hoàn cảnh và môi trường xung quanh đã tác động đến họ bằng cách này hay cách khác và làm xuất hiện ở con người các quá trình tâm lý diễn ra bên trong và hành vi diễn ra bên ngoài.
Có thể nói rằng, hành vi xuất hiện một cách khách quan trong mối quan hệ giữa con người và môi trường xung quanh. Trong hoàn cảnh nhất định, con người sẽ có những xử sự phù hợp về cả khía cạnh pháp luật và đạo đức. Tuy nhiên, hành vi của con người không phải lúc nào cũng phù hợp pháp luật, một trong số đó là hành vi vi phạm pháp luật và được quy định là “tội phạm”. Tội phạm là hiện tượng tiêu cực tồn tại trong mọi quốc gia.
Nó cũng là hành vi của con người nhưng hành vi đó có những đặc trưng riêng. Tất cả những đặc trưng cơ bản của tội phạm và những chế định liên quan đều được quy định trong pháp luật hình sự của mỗi nước. Căn cứ vào đó, chúng ta xác định được hành vi nào bị coi là tội phạm và phải chịu chế tài tương ứng do pháp luật quy định. Ở Việt Nam, tội phạm được luật hình sự quy định là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hay vô ý.
Sự tồn tại của con người trong thế giới khách quan được biểu hiện bằng hoạt động đối với môi trường xung quanh và thông qua hành vi. Hành vi đó luôn chứa đựng cái “tôi” của chủ thể, đó chính là mặt chủ quan. Để nhận thức về hành vi và chủ thể thực hiện hành vi ấy, phải thông qua những diễn biến và biểu hiện bên ngoài, hay nói cách khác phải thông qua mặt khách quan. Chính vì vậy, khi nghiên cứu về tội phạm, một vấn đề được đặt ra 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đó là bên cạnh khái niệm được quy định trong luật thì những biểu hiện bên ngoài của tội phạm, những gì diễn ra trong thế giới khách quan, đã được con người nhận thức như thế nào, vai trò của những yếu tố đó trong tổng thể các yếu tố của cấu thành tội phạm được thể hiện ra sao? Bởi xét đến cùng, thì hành vi phạm tội là thể thống nhất giữa các yếu tố khách quan và chủ quan, giữa những diễn biến tâm lý bên trong của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội và những biểu hiện diễn ra bên ngoài mà ta có thể nhận biết trực tiếp bằng các giác quan.
Hai mặt khách quan và chủ quan của tội phạm có liên hệ chặt chẽ với nhau, bên cạnh việc nghiên cứu mặt chủ quan, thì việc nghiên cứu mặt khách quan của tội phạm với tư cách là một yếu tố cấu thành tội phạm là cần thiết vì tội phạm thể hiện một cách rõ nét nhất các yếu tố của nó thông qua mặt khách quan, những diễn biến bên ngoài mà con người nhận thức được không phụ thuộc vào ý thức của chủ thể. Bất kỳ tội phạm nào xảy ra trong thực tế khách quan cũng đều có những biểu hiện diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài mà con người có thể nhận biết trực tiếp được. Những biểu hiện đó bao gồm: hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, các dấu hiệu biểu hiện việc thực hiện hành vi phạm tội và gắn liền với hành vi như: công cụ, phương tiện, phương pháp, thủ đoạn phạm tội, thời gian, địa điểm và hoàn cảnh phạm tội. Những biểu hiện trên đây tạo thành mặt khách quan của tội phạm với tư cách là một yếu tố cấu thành tội phạm.
Như vậy, mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan[59, tr. Từ những định nghĩa trên đây về mặt khách quan của tội phạm, đồng thời trên cơ sở phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự nói chung và thực tiễn xét xử nói riêng, có thể khẳng định các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm bao gồm: hành vi phạm tội - hành vi nguy hiểm cho xã hội (bằng hành động hoặc không hành động); hậu quả phạm tội - hậu quả nguy hiểm cho xã hội (nếu nó được quy định trong cấu thành tội phạm tương ứng); mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả phạm tội; các dấu hiệu không bắt buộc 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com như công cụ, phương tiện, phương pháp, thủ đoạn phạm tội, thời gian, địa điểm và hoàn cảnh phạm tội. Giữa những biểu hiện bên ngoài - mặt khách quan và những quan hệ tâm lý bên trong - mặt chủ quan của bất kỳ hành vi phạm tội nào cũng có mối quan hệ thống nhất. Những hành vi đó đều là hoạt động của con người cụ thể, xâm hại hoặc nhằm xâm hại những quan hệ xã hội nhất định.
Các yếu tố khách quan và chủ quan có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và được thể hiện trong hành vi phạm tội của chủ thể. Cùng với chủ thể, khách thể và mặt chủ quan của tội phạm, mặt khách quan của tội phạm là một trong bốn yếu tố cấu thành tội phạm. Trong cấu thành tội phạm, các yếu tố thuộc mặt khách quan có ý nghĩa không giống nhau. Hành vi nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu bắt buộc và được quy định trong tất cả các cấu thành tội phạm, không có hành vi thì không có cấu thành tội phạm và cũng không thể có tội phạm.
Các dấu hiệu khác thuộc mặt khách quan có thể là dấu hiệu định tội hoặc là dấu hiệu định khung hình phạt. Mặt khách quan của tội phạm có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn. Căn cứ vào những biểu hiện như hành vi được chủ thể thực hiện và một số nội dung biểu hiện khác, người ta biết được tội phạm đã xảy ra, các tình tiết, diễn biến của vụ án, xác định được đó là tội gì trong số các tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự. Do vậy, mặt khách quan của tội phạm có ý nghĩa trước hết đối với việc định tội.
“Các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm nếu xác định đúng thì sẽ giúp cho các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án phân biệt đúng từng tội phạm cụ thể trên cơ sở các dấu hiệu cơ bản và điển hình nhất được nhà làm luật ghi nhận với tính chất là các dấu hiệu bắt buộc tại điều (khoản) tương ứng trong Phần các tội phạm Bộ luật hình sự”[13, tr. Ngoài ý nghĩa trong việc định tội, các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm còn có ý nghĩa trong việc định khung hình phạt. Trong nhiều trường hợp, các dấu hiệu thuộc mặt khách quan được phản ánh là dấu hiệu định khung trong cấu thành tội phạm tăng nặng của một số tội phạm. Mặt khách quan còn có ý nghĩa trong việc đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, xác định lỗi, đánh giá mức độ lỗi, mức độ trách nhiệm hình sự của người thực hiện hành vi.
Ngoài ra, thông 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com qua mặt khách quan, có thể xác định các yếu tố khác của cấu thành tội phạm như mặt chủ quan, chủ thể và khách thể của tội phạm. Hành vi khách quan của tội phạm 1. Khái niệm về hành vi khách quan của tội phạm Có thể nói rằng, trong tất cả các yếu tố thuộc mặt khách quan của tội phạm thì hành vi khách quan là biểu hiện cơ bản nhất và cũng là biểu hiện cơ bản nhất của tội phạm nói chung. Tất cả các biểu hiện khác của tội phạm luôn gắn liền với hành vi.
Có hành vi khách quan xuất hiện trong thực tế thì mới có các biểu hiện khác của tội phạm. Hành vi là dấu hiệu bắt buộc của tất cả các cấu thành tội phạm, không có hành vi thì không có cấu thành tội phạm và cũng không thể có tội phạm. Xung quanh khái niệm hành vi có nhiều quan điểm khác nhau. Khái niệm hành vi lần đầu tiên được J.
Khái niệm hành vi được xây dựng trên nền móng thực chứng luận và chỉ dựa trên những hiện tượng có thể quan sát được từ bên ngoài. Hành vi được xem như là tổng hợp các phản ứng của cơ thể trước các kích thích của môi trường bên ngoài theo công thức S – R (Stimulant: kích thích; Reaction: phản ứng). Điều này có nghĩa là bất kỳ một hành vi nào của người và động vật đều diễn ra theo cơ chế: có kích thích thì có phản ứng chứ không liên quan gì tới ý thức, tới những yêu cầu và chuẩn mực của xã hội. Trong từ điển Tâm lý học do R.Corsini chủ biên có viết: “Hành vi là những những hành động, phản ứng, những tương tác đáp lại kích thích bên trong và bên ngoài bao gồm những cử chỉ quan sát được một cách khách quan, những cử chỉ thuộc về nội tâm và những quá trình vô thức”[16, tr.
Hành vi có hai phạm trù: hành vi hiện ra bên ngoài và hành vi diễn ra bên trong. Hành vi hiện ra bên ngoài là những hành động mà người khác có thể quan sát trực tiếp được. Hành vi diễn ra bên trong đầu là những gì chúng ta làm mà người khác không thể quan sát trực tiếp được nhưng có thể nhận biết thông qua suy luận. Chủ nghĩa hành vi cổ điển chỉ quan tâm đến hành vi bộc lộ ra bên ngoài, bỏ qua những gì diễn ra bên trong đầu thuộc bình diện nhận thức.
Tuy nhiên, chủ nghĩa hành vi hiện đại coi trọng cả 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hai phạm trù này. Còn theo tâm lý học Nga, hành vi của con người được xem như hoạt động, tuy ít nhiều mang những yếu tố bẩm sinh, nhưng chủ yếu chịu sự chi phối từ phía xã hội thông qua ngôn ngữ và các hệ thống tín hiệu ý nghĩa khác. Từ điển Tâm lý học do A.