phần mở đầu, mục lục, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của marketing trong hoạt động thông tin thƣ viện trƣờng đại học 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động marketing của Thƣ viện James Hardiman, Trung tâm Thông tin – Thƣ viện Đại học Quốc gia Hà Nội và khả năng áp dụng kinh nghiệm hoạt động marketing Chƣơng 3: Giải pháp phát triển công tác marketing tại Trung tâm Thông tin – Thƣ viện Đại học Quốc gia Hà Nội trên cơ sở áp dụng mô hình marketing của Thƣ viện James Hardiman 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA MARKETING TRONG HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN THƢ VIỆN TRƢỜNG ĐẠI HỌC 1.1 Những vấn đề chung về marketing trong hoạt động thông tin – thƣ viện 1.1 Các khái niệm của marketing trong hoạt động thông tin – thƣ viện Marketing trong hoạt động thông tin – thƣ viện Marketing là một thuật ngữ tiếng Anh đƣợc dịch sang tiếng Việt với ý nghĩa là “tiếp thị”, “quảng cáo”… Tuy nhiên, các khái niệm dịch thuật lại không chuyển tải đƣợc đầy đủ bản chất và ý nghĩa của marketing hiện đại, đó là làm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, chứ không đơn thuần chỉ là “mời chào và bán”. Điều đó lý giải cho việc ngày nay, thuật ngữ này đang đƣợc mặc nhiên sử dụng nguyên bản nhƣ một thuật ngữ khoa học chính thống và đƣợc cả thế giới công nhận, thống nhất sử dụng trong mọi lĩnh vực. Philip Kotler – ngƣời đƣợc coi là cha đẻ của marketing hiện đại – đã định nghĩa ngắn gọn: Marketing là hoạt động của con ngƣời nhằm đáp ứng nhu cầu thông qua tiến trình trao đổi. Từ năm 1969, một số chuyên gia về marketing , trong đó có Philip Lotler và Levy đã khẳng định: Marketing không chỉ là chức năng của kinh doanh sản xuất hàng hóa mà còn là chức năng quan trọng của các tổ chức phi kinh doanh (non-business).
Theo nguyên lý đó, cơ quan thông tin - thƣ viện ở nhiều nƣớc trên thế giới đã áp dụng lý thuyết marketing để định hƣớng hoạt động của mình. Khi nghiên cứu marketing trong hoạt động thông tin – thƣ viện, ta cần phải chú ý rằng, bản chất của thƣ viện là cơ quan, tổ chức phi lợi nhuận. Để ứng dụng marketing cho tổ chức phi lợi nhuận, P. Kotler đã đƣa ra khái niệm “Marketing xã hội” nhƣ sau:“Marketing xã hội là nhiệm vụ của tổ chức để 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xác định các nhu cầu, mong muốn và mối quan tâm của thị trường mục tiêu và phân phối sự thoã mãn một cách hiệu quả và hiệu suất hơn đối thủ, theo cách giữ gìn và nâng cao sự hài lòng của khách hàng và của xã hội” Theo từ điển thuật ngữ Thƣ viện học và tin học (ALA): “Marketing thông tin - thƣ viện là tất cả hoạt động có mục đích cổ vũ cho sự trao đổi và đáp ứng giữa nhà cung cấp dịch vụ thƣ viện và truyền thông với ngƣời đang sử dụng hay sẽ có thể là ngƣời ngƣời sử dụng những dịch vụ này.
Những hoạt động này quan tâm đến sản phẩm, giá cả, phƣơng pháp giao hàng và phƣơng pháp quảng bá sản phẩm”. 27] Từ những khái niệm trên, chúng ta nhận thấy rằng marketing trong các cơ quan thông tin – thƣ viện nhằm mục đích chính là nắm bắt đƣợc nhu cầu đọc, nhu cầu tin của ngƣời sử dụng, tìm ra những con đƣờng tốt nhất để thoã mãn nhu cầu này. Ngƣời dùng tin và nhu cầu tin Một đặc điểm nổi bật trong các cơ quan thông tin – thƣ viện là luôn đề cao vai trò của ngƣời dùng tin (NDT), luôn đặt lợi ích của NDT lên trên hết. Điều này phù hợp với quan điểm của marketing hiện đại, luôn hƣớng đến các nhu cầu của ngƣời tiêu dùng, mà ở đây chính là NDT.
NDT là ngƣời có nhu cầu tin (NCT), tiếp nhận và sử dụng thông tin (trực tiếp hoặc thông qua các sản phẩm và dịch vụ thông tin) nhằm thỏa mãn nhu cầu tin của mình. NDT là ngƣời tiêu dùng các sản phẩm và dịch vụ thông tin. NDT trong cơ quan thông tin – thƣ viện vừa là khách hàng, vừa là nhân tố hữu cơ giữ vai trò quan trọng trong mọi hệ thống thông tin, là nguồn gốc và động lực thúc đẩy sự phát triển hoạt động thông tin – thƣ viện (TT-TV) và đồng thời cũng là ngƣời sản sinh ra những thông tin mới. Do đó, trong quan điểm marketing thì NDT chính là yếu tố trung tâm để nghiên cứu và làm thỏa mãn NCT của họ thông qua tiến trình trao đổi.
16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo quan điểm của tâm lý học Mác xít, NCT là đòi hỏi khách quan của con ngƣời (cá nhân, nhóm, xã hội) đối với việc tiếp nhận và sử dụng thông tin, nhằm duy trì hoạt động sống của con ngƣời. NCT xuất phát từ nhu cầu nhận thức, nhu cầu muốn đƣợc hiểu biết và khám phá về các sự vật, hiện tƣợng. Khi nhu cầu nhận thức ổn định sẽ dẫn đến nhu cầu và mong muốn đƣợc đáp ứng, thỏa mãn. Đối với các cơ quan TT – TV, NCT của mọi đối tƣợng NDT, đặc biệt là các nhóm có cùng một NCT nhất định, là cơ sở quan trọng để tiến hành các hoạt động thông tin.
Sản phẩm và dịch vụ thông tin – thƣ viện Trong hoạt động TT – TV, thứ hàng hóa để làm thỏa mãn nhu cầu của NDT là sản phẩm và dịch vụ TT – TV. Thuật ngữ này đƣợc hình thành trên cơ sở vận dụng và phát triển các khái niệm “sản phẩm” và “dịch vụ” đã từng phổ biến trong lĩnh vực kinh tế, thực tiễn hoạt động sản xuất… sản phẩm và dịch vụ (SPDV) chính là thứ để làm thỏa mãn nhu cầu của con ngƣời thông qua tiến trình trao đổi, đây là nguyên lý cốt lõi của marketing. Theo cách tiếp cận thƣ viện – thông tin, các khái niệm sản phẩm và dịch vụ thông tin đƣợc định nghĩa nhƣ sau: Sản phẩm TT – TV: Là kết quả của quá trình xử lý thông tin, do một cá nhân, tập thể nào đó thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu NDT. 21] Dịch vụ thông tin thƣ viện bao gồm những hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu thông tin và trao đổi thông tin của ngƣời sử dụng các cơ quan thông tin – thƣ viện nói chung.
21] Dịch vụ thông tin đƣợc triển khai sử dụng trên cơ sở các nguồn lực thông tin mà thƣ viện có khả năng đáp ứng. Tiếp cận theo góc độ marketing, các SPDV đƣợc xem là hàng hóa lƣu thông trong thị trƣờng TT – TV bao gồm: - Bản thân nguồn tin gốc mà cơ quan TT – TV trực tiếp quản lý hoặc bằng cách nào đó có đƣợc để cung cấp cho NDT. - Các sản phẩm thông tin (theo cách tiếp cận thƣ viện – thông tin) 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Các dịch vụ thông tin ( theo cách tiếp cận thƣ viện – thông tin) Cách hiểu này có ý nghĩa thực tiễn quan trọng đó là khẳng định mối quan hệ mật thiết giữa các sản phẩm, dịch vụ, các nguồn và hệ thống thông tin cũng nhƣ bản thân hệ thống tổ chức triển khai hoạt động TT – TV. Trao đổi thông tin Trao đổi là khái niệm cốt lõi trong hoạt động marketing, vì marketing xuất hiện khi ngƣời ta quyết định thỏa mãn nhu cầu và mong muốn thông qua trao đổi.
Theo Adam Smith – nhà kinh tế học Mỹ - trao đổi là thiên hƣớng tự nhiên của con ngƣời trong việc hoán vật, giao dịch, trao thứ này để lấy thứ khác. Trong lĩnh vực TT – TV, trao đổi diễn ra khi một bên có sản phẩm và dịch vụ mà bên kia cần, còn bên kia có nhu cầu sử dụng và có khả năng thanh toán cho những SPDV vụ đó. Việc trao đổi này diễn ra dƣới 2 dạng đó là trao đổi thƣơng mại và trao đổi phi thƣơng mại. Thông qua quá trình trao đổi, mối quan hệ giữa bên cung cấp – cơ quan TT – TV và khách hàng – NDT sẽ đƣợc tạo lập và duy trì.
Quá trình trao đổi này càng có chất lƣợng và NDT cảm thấy mình đƣợc hƣởng lợi qua quá trình này thì mối quan hệ đó sẽ đƣợc duy trì lâu dài. Thị trƣờng thông tin – thƣ viện Theo quan điểm của marketing hiện đại, thị trƣờng là nơi chuyển giao quyền sở hữu sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của cả hai bên. Nếu ta định nghĩa thị trƣờng là nơi trao đổi, mua bán hàng hóa thì thị trƣờng TT – TV là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi thông tin, sản phẩm thông tin. Tuy nhiên, có điểm đặc biệt là vì SPDV TT – TV là thứ hàng hóa đặc biệt, để tham gia thị trƣờng TT – TV thì các chủ thể phải có trình độ văn hóa và tri thức nhất định và việc hình thành thị trƣờng TT – TV cũng cần có các yếu tố: NDT/khách hàng, các bộ thƣ viện/ngƣời cung cấp các SPDV TT – TV, hệ thống SPDV TT – TV, các phƣơng thức tham gia thị trƣờng.
18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Marketing chính là phƣơng pháp hữu hiệu để thực hiện việc thỏa mãn nhu cầu cho NDT và tạo ra lợi thế cạnh tranh cho mỗi cơ quan TT – TV trong thời kỳ cạnh tranh khốc liệt để tồn tại giữa thƣ viện và các nguồn cấp tin khác. Trong đó, quan trọng nhất chính là phân tích thị trƣờng. Phân tích thị trƣờng TT – TV cho phép có đƣợc các thông tin về đặc trƣng của NDT, nhu cầu của thị trƣờng đối với thông tin/tài liệu, cơ cấu thị trƣờng, các hình thức và phƣơng pháp hoạt động đƣợc những ngƣời hoạt động trên thị trƣờng thông tin áp dụng… Việc nghiên cứu thị trƣờng TT – TV giúp cho hoạt động marketing đi theo đúng hƣớng, chất lƣợng, từ đó mang lại hiệu quả hoạt động cho cơ quan TT – TV.2 Vai trò của marketing trong hoạt động thông tin – thƣ viện trƣờng đại học Định hƣớng chiến lƣợc, kế hoạch cho thƣ viện Hoạt động marketing đƣợc triển khai dựa trên cơ sở xác định đƣợc chính xác và đầy đủ về NCT, NDT và các chủ thể, yếu tố khác tham gia vào hoạt động TT – TV. Vì thế có thể khẳng định, marketing đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng chiến lƣợc, kế hoạch phát triển cho các cơ quan TT – TV nói chung và các cơ quan TT – TV trƣờng đại học nói riêng.
Sự phát triển của hoạt động thông tin đƣợc xem là sự phát triển của một bộ phận hữu cơ không thể tách rời của hoạt động đào tạo.