CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1Giới thiệu về Alginate 1.1 Nguồn gốc Alginate là polysaccharide tự nhiên được sản xuất bởi tảo nâu và vi khuẩn. Năm 1881, Stanford đã chiết xuất được alginate lần đầu tiên ở tảo nâu (Phaeophyceae) dưới dạng muối canxi, magie, natri của alginic acid.Sự hiện diện của alginate cung cấp độ bền cơ học và tính linh hoạt của rong biển trong môi trường nước, giúp nó thích nghi với các tác động của dòng chảy. Cho đến nay, alginate thương mại được trích ly từ nhiều loại tảo nâu khác nhau. Các loại tảo phổ biến dùng để sản xuất alginate là Ascophyllum nodosum, Laminaria digitata, Laminariahyperborea, Laminaria saccharina, Laminaria japonica, Durivillaea potatorum, Durvillaea antarctic, Macrocystis pyrifera, Ecklonia maxima, Lessonia nigrescens …[34] Theo kết quả nghiên cứu của Gorin và Spencer (1966), Linker và Jones (1966), Govan và cộng sự (1981), một số vi khuẩn Azotobacter và Pseudomonas cũng có thể sản xuất alginatevới cấu trúc vật lí và hóa học tốt hơn so với alginate có nguồn gốc từ rong biển.
Những tiến bộ gần đây của quá trình tổng hợp alginate từ vi khuẩn cho phép tạo ra alginate với các tính năng phù hợp để ứng dụng trong y sinh.2 Cấu trúc hóa học Thành phần chính của alginate là acid alginic cấu tạo bởi các đơn vị acid guluronic và acid mannuronic liên kết với nhau bởi dây nối α-(1→4)-L-guluronic (G) và β-(1→4)-D-mannuronic (M). Hai gốc phân tử này phân bố trong mạch alginate theo 3 loại khối (Block): poly-G (G-G-G), poy-M (M-M-M) và poly-GM (G-M- G-M) liên kết ngẫu nhiên trong mạch. Độ bền vững của các khối gia tăng theo trật tự MG< MM < GG. Tùy theo nguồn gốc của alginate mà độ dài trong bình của mạch phân tử, độ dài của mỗi khối, tỷ lệ và trình tự kết hợp của chúng với nhau khác nhau.
Điều này làm cho tính chất của alginate biến đổi trong một dải rộng.Ví 4 download by : skknchat@gmail.com Khảo sát tạo màng phủ ăn được nano dụ: alginate được tạo thành từ vi khuẩn Aczotobacter có tỉ lệ khối G cao và gel của nó có độ cứng cao hơn[12]. Chỉ có khối G mới tham vào việc tạo liên kết ngang với ion canxi để tạo thành dạng hydrogel.Thành phần, trình tự sắp xếp các khối, hàm lượng khối G, chiều dài và trọng lượng phân tử là những yếu tố ảnh hưởng đến tính chất của alginate và quá trình hình thành gel của chúng. Các tính chất cơ học của alginate thường được tăng cường bằng hàm lượng khối G và trọng lượng phân tử của chúng [11].1Cấu tạo mạch alginate Hình 1.2Cấu trúc hóa học của poly-G, poy-M và poly-GM 5 download by : skknchat@gmail.com Khảo sát tạo màng phủ ăn được nano 1.3 Một số loại muối Alginate Alginate được sản xuất từ tảo nâu Phaeophyceae, trong tảo các acid chủ yếu ở dạng muối hỗn hợp (Na, K, Mg, Ca).3 Công thức cấu tạo Canxi Alginate (Phillip William, 1990) Là chất bột màu trắng, không mùi, không vị, không tan trong nước và ether, tan chậm trong những dung dịch natri polyphosphaste, natri carbonate và các chất kết hợp với ion canxi. Thường được sử dụng trong ngành công nghiệp thực phẩm, hàn, sơn và keo dẻo ướt.Canxi alginate được chiết xuất từ polysaccharide tự nhiên trong rong biển, có thể ứng dụng tốt làm chất phụ gia cho công nghiệp thực phẩm chức năng.
Alginate Natri: (C6H7O6Na)n Hình 1.4 Công thức cấu tạo của Natri alginate (Phillip William, 1990) 6 download by : skknchat@gmail.com Khảo sát tạo màng phủ ăn được nano Natri alginate là chất bột dạng hạt màu trắng hoặc vàng nhạt, không vị. Khi hòa tan trong nước nó tạo thành gel, được sử dụng cho các ngành công nghiệp thực phẩm như chất tăng độ nhớt và chất chuyển thể sữa. Không tan trong ether, ethanol và chloroform. Thông thường, Natri alginate được chiết xuất từ thành tế bào của tảo bẹ được trồng ở các vùng nước lạnh của Ireland, Scotland, Bắc và Nam Mỹ, New Zealand, Australia, và Nam Phi… Natri alginate hoạt động như một tác nhân tạo gel mà không cần nhiệt.Bên trong gel có sự hiện diện của các hợp chất canxi.Thường được sử dụng cùng với canxi clorua để bọc trứng cá muối,tăng cảm quan cho thức uống…Trong y học, nó có tác dụng hạ lipid máu, huyết áp.
Kali alginate: (C6H7O6K)n Hình 1.5 Công thức cấu tạo của Kali alginate (Phillip William, 1990) Giống như Natri alginate, Kali alginate cũng có dạng chất bột màu trắng, không mùi, không vị, hòa tan vào nước tạo thành dung dịch sệt dính, không hòa tan trong rượu và dung môi hữu cơ khác. Kali alginate chủ yếu được dùng trong công nghiệp dược phẩm và thực phẩm.Nó là loại carbohydrate polysaccharide tự nhiên có tác dụng hạ mỡ trong máu, hạ đường huyết, giảm lượng cholesterol…Ngoài ra, nó còn là vật liệu quan trọng trong nha khoa do có thể làm khuôn răng tốt hay tạo thành mặt nạ trong công nghiệp mỹ phẩm. Alginate kali có trọng lượng phân tử thấp có thể được cơ thể hấp 7 download by : skknchat@gmail.com Khảo sát tạo màng phủ ăn được nano thu và trao đổi tốt với ion natri trong ruột và dễ dàng thải bỏ khỏi cơ thể mà không gây tác hại gì, nên ngày nay nó đang là nguyên liệu làm màng bọc thuốc đang được nghiên cứu và ứng dụng. Amon alginate:(C6H11O6N)n Hình 1.6Công thức cấu tạo của amon alginate (Phillip William, 1990) Amon alginate là muối amoni của acid alginic, có dạng hạt hay bột màu trắng.
Hòa tan chậm trong nước tạo thành một dung dịch sệt dính, không tan trong ethanol, ether và kết tủa với canxi clorua, ammonium sulfat. Được dùng trong thực phẩm như chất ổn định, chất làm đặc, chất tạo keo, chất chuyển thể sữa.4 Tính chất của Alginate Alginate có tính ưa nước, tương hợp sinh học cao và rẻ tiền.Alginate được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực. Alginate có hai tính chất quan trọng là độ nhớt dung dịch và khả năng tạo gel. Độ nhớt Độ nhớt của dung dịch alginate phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: - Xuất xứ của loại tảo sử dụng để chiết xuất, thông thường tảo ở vùng ôn đới có độ nhớt cao hơn tảo ở vùng nhiệt đới, trọng lượng phân tử của alginate càng cao thì độ nhớt dung dịch càng tăng.
- Nhiệt độ tăng 10C thì độ nhớt tăng lên 25%, khi tăng nhiệt độ rồi lại hạ nhiệt độ thì độ nhớt của dung dịch alginate thấp hơn ban đầu. 8 download by : skknchat@gmail.com Khảo sát tạo màng phủ ăn được nano - Quá trình bảo quản cũng ảnh hưởng đến độ nhớt của dung dịch alginate, khi ở dạng bột alginate vẫn tiếp tục bị thủy phân và sau một thời gian thì độ nhớt của nó giảm xuống đáng kể. - Giá trị pH của dung dịch: ở pH 5,5, nhóm COO- bị proton hóa thành – COOH làm cho lực đẩy tĩnh điện giữa các chuỗi giảm xuống, chúng trở nên gần nhau hơn và dễ dàng tạo liên kết hydro làm tăng độ nhớt.Ở các giá trị pH thấp hơn (pH 3-4) thì chúng sẽ hình thành gel. Nếu trong dung dịch alginate có mặt ion Ca 2+ thì sẽ đông đặc ở pH khoảng 5.
Khi pH >11, alginate bị khử polymer hóa làm giảm độ nhớt do các liên kết glucoside sẽ bị thủy phân trong môi trường kiềm. Việc lạnh đông và làm tan dung dịch Natri alginate khi có mặt ion Ca 2+có thể làm tăng độ nhớt của dung dịch. Alginate có khối lượng phân tử trung bình lớn thì độ nhớt dung dịch của nó càng lớn. Tỷ lệ M/G cũng ảnh hưởng tới độ nhớt của sản phẩm.
Tuy nhiên, tỷ lệ M/G và trọng lượng phân tửlại phụ thuộc vào nhiều yếu tố: loài rong, độ trưởng thành, khu vực sinh trưởng, kỹ thuật chiết xuất, thời gian bảo quản… Độ nhớt của dung dịch alginate biến thiên trong một dải rộng từ 10 – 1000mPa.1 Độ nhớt của Alginate, mPa.S (Brookrield, 20rpm, 200C) (Cao ThịLanNhư, 2008) Độ nhớt Nồng độ (%) Thấp Trung bình Cao Rất cao 0,25 9 15 21 27 0,5 17 41 75 110 0,75 33 93 245 355 1,00 58 230 540 800 1,50 160 810 1950 3550 2,00 375 2100 5200 8750 9 download by : skknchat@gmail.com Khảo sát tạo màng phủ ăn được nano Qua những thông số trên cho thấy sự thay đổi độ nhớt với những nồng độ khác nhau. Ở một số trường hợp độ nhớt có thể tăng lên với nồng độ thấp khi có sự hiện diện của một số muối như CaCO 3, canxi tartrate, ion canxi liên kết với Alginate tạo cầu nối giữa các phân tử làm tăng trọng lượng phân tử độ nhớt dung dịch. Khả năng tạo gel Theo kết quả nghiên cứu của Meo và cộng sự(1995), khi cho kết hợp với cation hóa trị II và III, thường là ion Ca 2+ sẽ thấy xuất hiện các vùng nối giữa các mạch phân tử alginate và tạo gel theo mô hình “hộp trứng”. Các gel này được hình thành ở nhiệt độ phòng hoặc nhiệt độ <100 0C và tan chảy khi đun nóng.
Sự tạo gel alginate rất phức tạp, phụ thuộc nhiều vào các yếu tố khác như: dạng alginate, sự kết hợp với ion canxi và cách chuẩn bị màng. Sự tạo gel phụ thuộc vào sự liên kết giữa alginate và ion trung tâm, và ngược lại. Dung dịch alginate cũng tạo gel khi bị acid hóa, nhưng loại gel này mềm hơn so với calcium gel. Theo mô hình “hộp trứng” của Grant (1973) thì trong quá trình hình thành gel cần có những cơ chế liên kết giữa hai hay nhiều chuỗi alginate.
Chuỗi phân tử alginate cấu tạo từ các đơn vị glucoronic acid có hình dạng tương tự như một hộp đựng trứng với các nếp và khe hở mà ion Ca 2+ có thể chui vào, định vị và liên kết, trong khi các ion Ca2+ giữ các phân tử alginate lại với nhau thành các chuỗi alginate. Cấu trúc giữa các mạch glucoronic acid tạo khoảng cách giữa các nhóm carboxyl và hydroxyl thích hợp với một lượng lớn các liên kết của canxi[3] [15]. 1 download by : skknchat@gmail.com Khảo sát tạo màng phủ ăn được nano Hình 1.7Sự hình thành gel giữa Alginate và ion Ca2+ (2007, Elsevier Science Ltd., Oxford, UK) Hình 1.8Cấu trúc dạng “hộp trứng” 1.5 Ứng dụng Alginic acid không tan trong nước nhưng các muối của nó lại hòa tan hoàn toàn trong nước lạnh để tạo thành dung dịch nhớt, tính chất của dung dịch tạo thành thay đổi tùy theo xuất xứ các muối Alginate ban đầu và độ tinh khiết của các muối Alginate. Các muối Alginate tan trong nước được sử dụng như các chất cô đặc, các 1 download by : skknchat@gmail.com Khảo sát tạo màng phủ ăn được nano chất ổn định và các tác nhân tạo màng trong các ngành nhất là công nghiệp thực phẩm.
Theo Baldwin và cộng sự (1996), Park (1999), Wong và Pavlaath (1994), màng Alginate được sử dụng nhằm làm tăng thời gian bảo quản mà vẫn giữ được chất lượng ban đầu của thực phẩm.