Chương 1: Luật tục Jơrai – Cơ sở hình thành, nội dung và một số đặc điểm chủ yếu Luật tục (tập quán pháp, lệ tục…) tương ứng với các thuật ngữ khoa học nước ngoài: Customary law, lolk law, traditional law… là một hỡnh thức của tri thức bản địa, tri thức địa phương. Giáo sư Ngô Đức Thịnh đó định nghĩa khá rừ ràng và đầy đủ về luật tục như sau: ”Luật tục là một hỡnh thức của tri thức bản địa, được hỡnh thành trong lịch sử lõu dài qua kinh nghiệm ứng xử với môi trường xó hội, được thể hiện dưới nhiều hỡnh thức khỏc nhau và được truyền từ đời này sang đời khác bằng trí nhớ, qua thực hành sản xuất và thực hành xó hội. Nú ảnh hưởng đến việc hướng dẫn, điều chỉnh và điều hũa cỏc quan hệ xó hội, quan hệ con người với môi trường thiên nhiên. Những chuẩn mực ấy được cả cộng đồng thừa nhận và thực hiện, tạo nên sự cân bằng thống nhất xó hội của mỗi cộng đồng.37] Luật tục với tư cách là một hiện tượng xó hội - lịch sử đó tồn tại hàng ngàn năm nay ở nước ta và nhiều nước trên thế giới.
Tính tất yếu và phổ biến của việc tồn tại này bắt nguồn từ nhiều căn nguyên xó hội và lịch sử. Luật tục ra đời trong khung cảnh xó hội tiểu nụng, trong đó tồn tại các cộng đồng xó hội tự quản như xó hội gia tộc và xó hội lỏng giềng, Nhà nước không trực tiếp chi phối đến từng thành viên, công xó thực hiện chế độ tự quản và chịu trách nhiệm tập thể trước Nhà nước. Do vậy, luật tục được coi là “bộ luật” tự quản của cụng xó nụng thụn. Chỉ khi xuất hiện xó hội cụng dõn, tức người dân trực tiếp chịu sự chi 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phối, ràng buộc của Nhà nước thông qua pháp luật thỡ luật tục mới mất dần tỏc dụng điều hành xó hội cộng đồng nông thôn của nó.
Nước ta là một quốc gia đa tộc người với trỡnh độ phát triển xó hội cao thấp khỏc nhau, sống xen cài nhau và mỗi nhúm lại cú một tập quỏn phỏp riờng của mỡnh… Mỗi dõn tộc đều có tên gọi luật tục riêng như Hương ước (Việt), Hịt Khỏng (Thỏi), Phatkđi (Êđê), PhátKđuôi (M’Nụng), TpleiPhel (Jơrai)… Luật tục Tây Nguyên nói chung và luật tục Jơrai nói riêng đó tồn tại và được duy trỡ đến ngày nay như một thực tế khách quan. Cơ sở hình thành luật tục Jơrai Gialai với điều kiện địa lý, thiên nhiên ưu đói là khu vực lý tưởng cho con người sinh sống. Nơi đây có hơn 30 dân tộc anh em cư trú: Xê đăng, Gié Triêng, Jơrai, Bahnar, Mạ, Kơho… trong đó, chiếm tuyệt đại đa số cư dân bản địa ở Gialai là hai dân tộc Bahnar và Jơrai. Trừ dân tộc Kinh, dân tộc thiểu số ở Gialai có khoảng 49 vạn người, chiếm 44,95% dân số, trong đó dân tộc Jơrai có khoảng 34 vạn người, chiếm 34,8%; dân tộc Bahnar chiếm 13,5 vạn người, chiếm 12,46%; các dân tộc khác chiếm 1,69%.
Theo những tài liệu dân tộc học và khảo cổ học, có thể giả định địa bàn cư trú gốc của người Jơrai từ Bắc Gialai đến giáp tỉnh Đăklăk, Tây Bắc tỉnh Phỳ Yờn và những vùng dọc biên giới Camphuchia. Tộc người Jơrai chiếm trên 70% dân số các tộc người thiểu số sống ở Gialai, do đó tín ngưỡng và luật tục của tộc người này chi phối mạnh mẽ đến đời sống xó hội và tõm linh cỏc dõn tộc nơi đây. Trải qua quỏ trỡnh lịch sử lõu dài, với lối tư duy hoang sơ, mộc mạc nhưng đầy sáng tạo, tộc người Jơrai đó tạo nờn cho mỡnh một nền văn hóa độc đáo, mang đậm chất Tây Nguyên. Một trong những yếu tố làm nên chất bản sắc cho văn hóa Jơrai là luật tục.
Nghiên cứu luật tục Jơrai không chỉ để hiểu về dân tộc có số dân đông, có trỡnh độ phát triển kinh tế - xó hội cao so với cỏc dõn tộc khỏc trong vựng, mà qua luật tục 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của họ, ta cũn hiểu được toàn bộ nếp sống, lối tư duy, cỏc giỏ trị văn hoá, và các phương diện khác của người Jơrai. Luật tục Jơrai được hỡnh thành trờn cơ sở của điều kiện tự nhiên, cũng như điều kiện kinh tế - xó hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định. Luật tục Jơrai, nhỡn từ gúc độ triết học là sự thể hiện quan niệm của người Jơrai về thế giới và về cuộc sống, là nơi gửi gắm những ước mơ, khát vọng chinh phục, cải tạo tự nhiên và xó hội của con người. Điều kiện tự nhiên Tây Nguyên là một vùng đất chiến lược quan trọng vào bậc nhất của đất nước ta, đó là vùng cao nguyên đất đỏ giàu có, rừng núi trùng điệp với những trảng cỏ cao lút đầu, những dũng sụng đỏ nặng phù sa cuộn chảy vào mùa mưa, là quê hương của những cánh rừng chè, cafê, caosu… của đất nước.
Tõy Nguyờn hiện nay gồm 5 tỉnh: KonTum, GiaLai, ĐắkNông, ĐăkLăk và Lâm Đồng. Gialai nằm ở khu vực Bắc Tây Nguyên, phía Bắc tiếp giáp KonTum; phía Đụng giỏp Quảng Ngói, Bỡnh Định, Phú Yên; phía Nam giáp ĐăkLăk; phái Tõy giỏp tỉnh Ratanakiri (Camphuchia), có đường biên giới chung là 90 km. Gialai cú diện tớch là 15.485 km2, có toạ độ từ 12058’40” đến 14037’00” vĩ độ bắc, và từ 107027’30” đến 108054’40” kinh độ Đông, là nơi giáp ranh giữa Trường Sơn Đông và Trường Sơn Tây, do đó Gialai được ví như “Nóc nhà của 3 nước Đông Dương”. Khí hậu Gialai càng lên cao nhiệt độ càng giảm tạo nên một vành đai khí hậu Á nhiệt đới và ôn đới trờn nỳi, có mùa hè dịu mát và ẩm ướt, mùa đông ít lạnh và khô.
Đó là một nền nhiệt độ phong phú, nắng nhiều mưa nhiều và ít thiên tai. Điểm đáng chú ý là biên độ dao động của nhiệt độ ngày và đêm khá lớn (khoảng 10 độ). Độ ẩm trung bỡnh năm trờn 80%, cú mựa khụ kộo dài, nhiệt độ các tháng trong năm đều lớn, lượng mưa trung bỡnh hàng năm từ 1800 – 2800 mm. Ở đây, một năm có hai mùa rừ rệt.
Mựa mưa (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau) với những cơn mưa kéo dài thường dẫn đến lũ lụt, rửa trôi. Mùa khô (từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm) lại thiếu nước 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiêm trọng. Trước tỡnh hỡnh đó, người Jơrai đó lựa chọn cho mỡnh cỏch ứng xử phự hợp trong sản xuất và sinh hoạt: gieo trồng, canh tỏc trong mựa mưa và vui chơi, lễ hội vào mùa khô. Gialai nằm trên một nền đá cổ rộng lớn gọi là “địa khối KonTum”.
Đó là một mảnh lục địa, cấu tạo bởi những đá cổ nhất ở Việt Nam. Tập đá này dày trên 4.000m, cũn lộ ra ở thượng nguồn sông Ba. Qua nhiều cố kiến tạo về sau, nền đá cổ này bị thay đổi địa hỡnh nờn phần lớn diện tớch của Gialai là núi và cao nguyên với độ cao trung bỡnh từ 700m đến 800m. Do vị trí địa lý và đặc điểm địa hỡnh, Gialai là một vựng đất giàu tiềm năng.
Đây là một trong những nơi có diện tích rừng lớn nhất toàn quốc (khoảng 828.632 ha rừng tự nhiờn và 30.363 ha rừng trồng) với nhiều loại lõm sản quý hiếm. Với mạng lưới sông suối khá dày đặc (phía Đông và Đụng Nam cú sụng Ba, phớa Tõy Bắc cú sụng Sờsan, phớa Tõy Nam là các nhánh sông Sêrêpôk…) và nhiều đồng bằng màu mỡ, khí hậu thuận lợi… làm cho Gialai trở thành mũi nhọn để phát triển cây công nghiệp dài ngày, cây lương thực, chăn nuôi và nghề rừng. Nhưng do mức độ chia cắt của địa hỡnh quỏ mạnh, sườn có độ dốc lớn lại mưa nhiều… nờn việc khai thỏc, kể cả việc bảo vệ, giữ gỡn tài nguyờn mụi trường đều cần có sự đầu tư lớn. Sự giàu có của thiên nhiên là chỗ dựa vững chắc cho đời sống kinh tế cho các cư dân nơi đây từ xưa đến nay.
Tuy vậy, thiên nhiên cũng không ban phát cho ai sự giàu có và của cải mà không đũi hỏi bàn tay lao động, óc sáng tạo, nghị lực, trớ thụng minh và lũng dũng cảm. Vỡ thế, để có thể tồn tại trước thiên nhiên đầy bất trắc, tộc người Jơrai đó khụng ngừng đấu tranh để vượt qua sự khắc nghiệt của “rừng thiêng nước độc”, khí hậu thất thường, thú rừng hoang dó… để tồn tại. Nhưng do hạn chế về trỡnh độ tư duy, nên các tộc người “Thượng” đó khụng trỏnh khỏi thỏi độ sùng bái tự nhiên, và đó chính là nguồn gốc của tín ngưỡng, của niềm tin thần thánh. Thiên nhiên thoáng đóng, hựng vĩ đó in dấu trong tõm hồn, hỡnh thành tớnh cỏch tự do, phúng khoỏng, chất phác, thật thà… của cư dân Jơrai.
Trên mảnh đất 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Gialai, con người đó cư trú từ rất sớm, đó từng tồn tại các tập đoàn dân cư cổ định cư nông nghiệp, phân bố rộng rói trờn cao nguyờn đất đỏ Pleiku, có chung một trỡnh độ, một sắc thái văn hoá độc đáo: văn hoá Biển Hồ, nằm ở bước chuyển từ giai đoạn đồ đá mới sang đầu giai đoạn kim khí. Văn hoá Biển Hồ của các cư dân đầu tiên đó xõy dựng nờn nền văn minh trên cao nguyên, nó tô đậm thêm truyền thống văn hoá và bức tranh tiền sử của các dân tộc Gialai. Điều kiện về tộc người. Mới đến Gialai, ai cũng có cảm giác đang ở một vùng tương đối tách biệt với bên ngoài.
Các cư dân nơi đây dường như từ lâu đời đó trải qua một cuộc sống yờn ổn, phẳng lặng. Nhưng thực tế với vị trí là nơi qua lại giữa 3 nước; giữa 3 luồng văn hoá, Gialai là nơi diễn ra nhiều tranh chấp giữa các thế lực thống trị bên ngoài; giữa các cư dân khác nhau trong vùng. Do đó, cuộc sống của con người luụn cú nhiều xỏo trộn vỡ chiến tranh, loạn lạc, cuộc sống du canh du cư, bệnh dịch, các cuộc chuyển cư hay thiờn di nối tiếp nhau từ thế hệ này sang thế hệ khỏc. Dựa vào những huyền thoại, những địa danh, những di chỉ văn hoá cổ xưa cũn tồn tại trong đời sống của cư dân hay trong lũng đất, có thể giả định những cư dân đầu tiên ở đây không cũn nữa.
Đú là những người lùn đen, thuộc đại chủng Ôtralụit. Họ chỉ cũn để lại những vết tích nhân chủng trên những người hiện nay cũn sống trong tỉnh, những người có hoà huyết giữa 2 đại chủng lớn Ôxtralụit và Mụngụlụit. Về lịch sử cư trú, cư dân nơi đây có thể chia thành 2 khối hay 2 lớp khác nhau: Những người đến cư trú sau (người Kinh) và những người được coi là cư dân “bản địa”.