Các yếu tố ảnh hưởng khả năng sinh lời và rủi ro tại NHTMCP Việt Nam

Chuyên khảo kinh tế phân tích Luận văn các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời và chấp nhận rủi ro tại các ngân hàng thương, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng

Chuyên ngành

Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

99
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và Tầm quan trọng của Khả năng Sinh lời Ngân hàng

Khả năng sinh lời là chỉ số quan trọng đánh giá hiệu suất hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP). Tại Việt Nam, khả năng sinh lời được đo lường thông qua các chỉ tiêu như ROA (Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản) và ROE (Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu). Luận văn của Nguyễn Ngọc Mỹ Hồng tập trung vào việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời, bao gồm cả yếu tố nội tại và yếu tố vĩ mô. Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu từ 20 ngân hàng trong giai đoạn lãi suất thấp, nhằm đánh giá sức khỏe tài chính của ngành. Việc hiểu rõ các yếu tố này giúp các nhà quản lý ngân hàng đưa ra chiến lược kinh doanh hiệu quả và bền vững.

1.1. Định nghĩa Khả năng Sinh lời

Khả năng sinh lời là khả năng của ngân hàng trong việc tạo ra lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh. Nó được đo lường thông qua ROAROE, phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản và vốn chủ sở hữu. Trong bối cảnh lãi suất thấp, khả năng sinh lời của các NHTMCP Việt Nam bị ảnh hưởng đáng kể, đặc biệt là thu nhập lãi ròng giảm thiểu.

1.2. Vai trò của Thu nhập Lãi Cận biên NIM

NIM (Net Interest Margin) là chỉ tiêu then chốt trong phân tích khả năng sinh lời. Nó biểu thị chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốn. Trong môi trường lãi suất thấp, NIM bị sụt giảm, làm giảm lợi nhuận ngân hàng, yêu cầu các NHTMCP phải tìm kiếm nguồn thu nhập khác để duy trì hiệu suất tổng thể.

II. Các Yếu tố Nội tại Ảnh hưởng đến Sinh lời và Rủi ro

Luận văn này phân tích chi tiết các yếu tố nội tại của ngân hàng ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh lờichấp nhận rủi ro. Các yếu tố này bao gồm cấu trúc tài chính, chất lượng tài sản, quy mô hoạt động, và chiến lược quản lý rủi ro. Nghiên cứu sử dụng phương pháp dữ liệu bảng Panel data và mô hình Pooled OLS, FEM, REM để xác định tác động của các yếu tố này. Kết quả cho thấy các chỉ tiêu tài chính nội bộ đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định mức độ lợi nhuậnmức độ chấp nhận rủi ro của các NHTMCP Việt Nam.

2.1. Chất lượng Tài sản và Trích lập Dự phòng

PCL (Các khoản trích lập dự phòng rủi ro tín dụng) là chỉ tiêu quan trọng phản ánh chất lượng danh mục tín dụng. Trong giai đoạn lãi suất thấp, các ngân hàng giảm trích lập dự phòng để duy trì lợi nhuận báo cáo, nhưng điều này ẩn chứa rủi ro cho sự ổn định tài chính lâu dài.

2.2. Quy mô và Hiệu quả Hoạt động

Quy mô tài sảntỷ lệ chi phí hoạt động ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh lời. Các ngân hàng lớn có thể tận dụng chi phí quy mô, nhưng phức tạp hơn cũng dẫn đến rủi ro hoạt động cao hơn. Nghiên cứu cho thấy mối quan hệ không tuyến tính giữa quy mô và lợi nhuận.

III. Yếu tố Vĩ mô và Môi trường Lãi suất

Yếu tố vĩ mô như môi trường lãi suất, tăng trưởng GDP, lạm phát, và điều kiện kinh tế chung có tác động đáng kể đến sinh lời và rủi ro ngân hàng. Luận văn này tập trung vào việc phân tích tác động của lãi suất thấp bất thường đối với lợi nhuận ngân hàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy môi trường lãi suất thấp suy yếu hiệu suất ngân hàng và làm giảm thu nhập lãi ròng đáng kể. Tuy nhiên, các ngân hàng đã cố gắng bù đắp bằng cách giảm dự phòng rủi ro, có thể gây nguy hiểm cho sự ổn định tài chính của hệ thống ngân hàng.

3.1. Tác động của Lãi suất Thấp

Môi trường lãi suất thấp làm suy yếu NIMthu nhập lãi ròng của các NHTMCP. Các ngân hàng phải đa dạng hóa nguồn thu nhập thông qua dịch vụ phi lãi suất, nhưng điều này cũng đi kèm với rủi ro mới. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu Panel data từ 20 ngân hàng để định lượng tác động này.

3.2. Điều kiện Kinh tế Vĩ mô

Tăng trưởng GDP, lạm phát, và chỉ số thất nghiệp ảnh hưởng đến nhu cầu tín dụngchất lượng nợ xấu. Trong giai đoạn tăng trưởng chậm, ngân hàng phải tăng dự phòng rủi ro, làm giảm lợi nhuận báo cáo nhưng cải thiện sức khỏe tài chính lâu dài.

IV. Kết luận và Hàm ý Chính sách cho Các NHTMCP Việt Nam

Luận văn của Nguyễn Ngọc Mỹ Hồng cung cấp những hiểu biết sâu sắc về các yếu tố ảnh hưởng đến sinh lời và rủi ro ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy cân bằng giữa lợi nhuận ngắn hạn và sự ổn định tài chính dài hạn là mấu chốt. Các NHTMCP Việt Nam cần áp dụng chiến lược quản lý rủi ro hiệu quả, đa dạng hóa nguồn thu nhập, và duy trì mức dự phòng phù hợp để tồn tại trong môi trường kinh tế thay đổi. Điều này đòi hỏi sự hợp tác giữa các ngân hàng, NHNN, và cơ quan quản lý để nâng cao sức khỏe và tính bền vững của hệ thống ngân hàng.

4.1. Khuyến nghị cho Các Ngân hàng

Các NHTMCP Việt Nam nên tối ưu hóa cơ cấu tài sản, tăng cường quản lý rủi ro tín dụng, và phát triển các dịch vụ ngân hàng số để tạo ra thu nhập bền vững. Trích lập dự phòng rủi ro phù hợpưu tiên hàng đầu để đảm bảo ổn định trong dài hạn.

4.2. Hướng Nghiên cứu Tương lai

Các nghiên cứu tiếp theo nên mở rộng phạm vi mẫu, bổ sung các biến mới như rủi ro tài chính toàn cầu, và phân tích tác động của các quy định mới (Basel III) đối với sinh lời và rủi ro NHTMCP ở Việt Nam.

22/12/2025
Luận văn các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời và chấp nhận rủi ro tại các ngân hàng thương mại cổ phần việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 đã giới thiệu khái quát về tính cấp thiết của nội dung đề tài, mục tiêu nghiên cứu của đề tài. Trên cơ sở đó, đề tài xây dựng các câu hỏi nghiên cứu và thông qua các phương pháp kỹ thuật định lượng để tìm ra kết quả nghiên cứu. Nội dung chương 2 gồm hai phần: phần đầu nêu ra cơ sở lý thuyết về hiệu quả hoạt động của ngân hàng, phần hai của đề tài trích dẫn một số nghiên cứu thực nghiệm trước, đồng thời cũng làm cơ sở để xác định các biến nghiên cứu trong đề tài. Khái niệm về khả năng sinh lời Theo Ehow (2012) khả năng sinh lời là thước đo hiệu quả bằng tiền, là điều kiện cần nhưng chưa đủ để duy trì cân bằng tài chính.

Việc đánh giá khả năng sinh lời phải dựa trên một khoảng thời gian tham chiếu. Khái niệm khả năng sinh lời được áp dụng trong mọi hoạt động kinh tế sử dụng các phương tiện vật chất, con người và tài chính, thể hiện bằng kết quả trên phương tiện. Khả năng sinh lời có thể áp dụng cho một hoặc một tập hợp tài sản. “Khả năng sinh lợi là mục tiêu chính của tất cả các hoạt động kinh doanh.

Nếu không có khả năng sinh lợi, các hoạt động kinh doanh không thể tồn tại trong thời gian dài. Vì vậy, việc đo lường khả năng sinh lợi trong quá khứ, hiện tại và dự đoán khả năng sinh lợi trong tương lai đóng vai trò rất quan trọng” (Don Hofstrand, 2009). NHTM cũng là một doanh nghiệp, do đó, khả năng sinh lời NHTM có thể được hiểu là khả năng kinh doanh, sử dụng một cách hiệu quả tài sản của ngân hàng để tạo ra lợi nhuận nhằm bù đắp cho những chi phí của ngân hàng. Khả năng sinh 6 lời của ngân hàng chính là lợi nhuận sau thuế hay lợi nhuận ròng của ngân hàng (Rose, 2002).

Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời -phản ánh tính hiệu quả của một đồng vốn kinh doanh - theo thông lệ quốc tế thường được phản ánh thông qua các chỉ tiêu sau: thu lãi biên ròng (NIM), thu nhập ròng trên tổng tài sản (ROA) và thu nhập ròng trên tổng vốn chủ sở hữu (ROE). Tổng thu nhập lãi – Tổng chi phí lãi NIM = Tổng tài sản có Tỷ lệ thu lãi biên ròng (NIM) phản ánh năng lực của hội đồng quản trị và nhân viên ngân hàng trong việc duy trì sự tăng trưởng của các nguồn thu (chủ yếu từ các khoản cho vay, đầu tư và phí dịch vụ) so với mức tăng của chi phí (chủ yếu là chi trả lãi tiền gửi, những khoản vay trên thị trường tiền tệ, tiền lương nhân viên và phúc lợi). Tỷ lệ thu nhập lãi biên ròng đo lường mức chênh lệch giữa thu từ lãi và chi trả lãi mà ngân hàng có thể đạt được thông qua hoạt động kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và theo đuổi các nguồn vốn có chi phí thấp. ROA là một chỉ số thể hiện tương quan giữa mức sinh lợi của một công ty so với tài sản của nó.

ROA sẽ cho ta biết hiệu quả của công ty trong việc sử dụng tài sản để kiếm lời. ROA được tính bằng cách chia thu nhập hàng năm cho tổng tài sản, thể hiện bằng con số phần trăm. Công thức tính như sau: Lợi nhuận sau thuế ROA = Tổng tài sản có ROA là một chỉ tiêu chủ yếu phản ánh tính hiệu quả quản lý. Nó chỉ ra rằng khả năng của hội đồng quản trị ngân hàng trong quá trình chuyển tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng.

ROA được sử dụng rộng rãi trong phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh và đánh giá tình hình tài chính của ngân hàng, nếu mức ROA thấp có thể là kết quả của một chính sách đầu tư hay cho vay không năng động hoặc 7 có thể chi phí hoạt động của ngân hàng quá mức. Ngược lại, mức ROA cao thường phản ánh kết quả của hoạt động hiệu quả, ngân hàng có cơ cấu tài sản hợp lý, có sự điều động linh hoạt giữa các hạng mục trên tài sản trước những biến động của nền kinh tế. Hệ số thu nhập trên vốn cổ phần (ROE) phản ánh mức thu nhập ròng trên vốn cổ phần của cổ đông (hay trên giá trị tài sản ròng hữu hình). Lợi nhuận sau thuế ROE = Vốn chủ sở hữu ROE là một chỉ tiêu đo lường tỷ lệ thu nhập cho các cổ đông của ngân hàng.

Nó thể hiện thu nhập mà các cổ đông nhận được từ việc đầu tư vào ngân hàng (tức là chấp nhận rủi ro để hy vọng có được thu nhập ở mức hợp lý). Chỉ tiêu này cũng được sử dụng khá phổ biến trong phân tích hiệu quả hoạt động nhằm phản ánh hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu. Ngoài ra, trong đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng, các nhà quản trị ngân hàng còn xem xét mối quan hệ giữa chỉ tiêu ROA và ROE vì trên thực tế hai chỉ tiêu này phản ảnh sự đánh đổi cơ bản giữa rủi ro và thu nhập. Chính điều này cho thấy một ngân hàng có thể có ROA thấp nhưng vẫn có thể đạt được ROE khá cao do họ sử dụng đòn bẩy tài chính lớn.

Khái niệm về rủi ro ngân hàng AllanWillett cho rằng: "Rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến việc xuất hiện một biến cố không mong đợi". Trong một nghiên cứu của JohnHaynes, và được nhắc lại một lần nữa trong cuốn Lý thuyết Bảo hiểm và Kinh tế của IrvingPfeffer thì rủi ro là : “ Khả năng xảy ra tổn thất, là tổng hợp những sự ngẫu nhiên có thể đo lường được bằng xác suất”. Các định nghĩa trên dù ít nhiều khác nhau song có thể thấy rằng nó cùng đề cập đến hai đặc điểm cơ bản của rủi ro, đó là: “Rủi ro là sự không chắc chắn và là 8 khả năng xảy ra kết quả không mong muốn. Trong các khả năng xảy ra, có ít nhất một khả năng đưa đến kết quả không mong muốn.

Và kết quả này có thể đem lại tổn thất hay thiệt hại cho đối tượng gặp rủi ro.” Rủi ro tồn tại trong hoạt động kinh doanh dưới các hình thức khác nhau. Do đặc điểm đặc thù của hoạt động Ngân hàng làm cho hoạt động này có độ rủi ro lớn. Có các loại rủi ro chủ yếu sau trong hoạt động của NHTM: Rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro nguồn vốn, rủi ro do thừa vốn, rủi do do thiếu vốn, rủi ro hối đoái, rủi ro trong thanh toán, rủi ro thuần tuý, rủi ro mất khả năng thanh toán. Altunbas, Gambacorta và Marques ‐ Ibanez (2010) tìm thấy một môi trường lãi suất thấp đột ngột và xảy ra trong một thời kỳ dài sẽ làm rủi ro ngân hàng tăng lên.

Có lẽ, các ngân hàng có xu hướng giả định rằng rủi ro của ngân hàng lớn hơn chủ yếu thông qua hai kênh. Thứ nhất, họ có thể tạo thêm thu nhập từ các hoạt động khác, bằng cách tăng phí và thu nhập kinh doanh thông qua sự thay đổi trong mô hình, do Rajan xây dựng (2005). Ở Nhật Bản, ví dụ điển hình của một thời gian dài ‐ môi trường lãi suất siêu thấp kéo dài, các ngân hàng thực sự đã cố gắng thay đổi mô hình kinh doanh của họ và phát triển các nguồn thu nhập mới để duy trì khả năng sinh lời. Họ mở rộng ở các khu vực bên ngoài thị trường cốt lõi của họ, mở rộng phạm vi dịch vụ của họ, chiến lược đầu tư thay đổi và thành lập các ngành nghề kinh doanh mới (xem Weistroffer, 2013).

Roengpitya et al. (2014) mô tả ba ngân hàng có mô hình kinh doanh khác nhau và thấy rằng sau cuộc khủng hoảng tài chính nhiều ngân hàng đã điều chỉnh chiến lược của họ phù hợp với hiệu suất tương đối của mô hình kinh doanh. Tuy nhiên, họ cũng thấy rằng một sự thay đổi trong mô hình kinh doanh thường làm giảm lợi nhuận hơn là tăng cường nó, những ngân hàng đã có những rắc rối trong việc thay đổi chiến lược của họ. Sự tìm kiếm năng suất và tăng khả năng sinh lời có thể có rủi ro cũng được giải thích bằng phát hiện của Manganelli và Wolswijk (2009) rằng trong quá trình tăng trưởng kinh tế bị bóp méo, lãi suất thấp hơn có thể phản ánh ít rủi ro hơn.

Các sự tồn tại của kênh gây rủi 9 ro, đó là, tác động các thay đổi về tỷ lệ chính sách đối với nhận thức rủi ro hoặc rủi ro khoan dung, được xác định bởi Borio và Zhu (2008). Kênh nguy cơ thứ hai và chiếm ưu thế liên quan đến rủi ro tín dụng đó là môi trường lãi suất thấp có thể ảnh hưởng đến rủi ro trong danh mục cho vay. Thứ nhất, lãi suất thấp có thể làm giảm xác suất xác định về các khoản vay và do đó, giảm các khoản dự phòng về các khoản vay. Mặt khác, có thể dẫn đến tình trạng giảm các tiêu chí cho vay của ngân hàng và làm giảm chất lượng danh mục cho vay, trong trung hạn dẫn đến tổn thất tín dụng cao hơn.

Jiménez, Ongena, Peydró và Saurina (2014), Ongena và Peydró (2009), Bolivia, Maddaloni và Peydró (2011) thấy rằng, trong trường hợp của Châu Âu và Hoa Kỳ, làm mềm tiêu chuẩn cho vay đối với các công ty và hộ gia đình. Dell'Ariccia và Marquez (2006) thấy rằng lãi suất thấp làm giảm khả năng loại bỏ những vấn đề bất lợi và do đó có thể làm giảm sàng lọc ngân hàng, tăng khả năng cho vay nhiều rủi ro hơn. Delis và Kouretas (2011) bổ sung cho các tài liệu bằng cách xem xét các năm 2001-2008 và lưu ý rằng lãi suất thấp làm tăng rủi ro của khoản vay danh mục đầu tư. Một mối tương quan trong hai kênh trên có nguy cơ có thể được xem xét, như Delis và Kouretas (2011) được tìm thấy rằng các ngân hàng tham gia vào nhiều hoạt động phi truyền thống, có nghĩa là, tiếp xúc với rủi ro cao hơn, cũng có xu hướng tiếp tục với các rủi ro cao hơn trong các hoạt động truyền thống của họ.

Khái quát về các yếu tố ảnh hƣởng đến khả năng sinh lời và chấp nhận rủi ro Các NHTM muốn giữ vững ổn định và phát triển lành mạnh cần nhờ vào điều kiện tiên quyết đó là hoạt động có kết quả tốt, do đó việc tăng cường khả năng sinh lời sẽ đóng góp tích cực việc mở rộng hoạt động kinh doanh, nâng cao năng lực tài chính, tăng khả năng cạnh tranh, xây dựng danh hiệu. Bên cạnh đó cũng cần phát hiện những rủi ro cho ngân hàng để phòng tránh những tổn thất có thể xảy ra, để có thể bảo toàn vốn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ