CHƯƠNG 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG VÀ TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI VÀO TRUNG ĐÔNG 1.1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 1. Những khái niệm cơ bản liên quan đến xuất khẩu lao động Trước hết ta có thể hiểu: “xuất khẩu lao động” là sự di chuyển quốc tế sức lao động có chủ đích, có mục đích và được pháp luật cho phép. Trong đó, “di chuyển quốc tế sức lao động” là hiện tượng người lao động ra nước ngoài nhằm mục đích tìm kiếm việc làm, bán sức lao động để kiếm sống [1, tr. Xuất khẩu lao động là một hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế đối ngoại, là một hình thức đặc thù của hoạt động xuất khẩu nói chung, trong đó hàng hóa đem xuất là sức lao động sống của người lao động.
Xuất khẩu lao động là một hoạt động tất yếu khách quan của quá trình di chuyển các yếu tố đầu vào của sản xuất. Nó được dùng để chỉ một lĩnh vực hoạt động kinh tế của một quốc gia có các tổ chức kinh tế thực hiện nhiệm vụ cung ứng lao động cho các tổ chức kinh tế của một nước khác có nhu cầu sử dụng lao động nhập khẩu. Trong điều kiện kinh tế thị trường, hoạt động xuất khẩu lao động được thực hiện chủ yếu trên cơ sở quan hệ cung – cầu sức lao động. Xuất khẩu lao động ở các nước phát triển: Các nước này có xu hướng gửi lao động kỹ thuật cao sang các nước chậm phát triển và đang phát triển để thu ngoại tệ.
Đây là trường hợp đầu tư chất xám có chủ đích, nhằm mục tiêu thu hồi lại một phần chi phí đào tạo cho đội ngũ chuyên gia trong nhiều năm, một phần khác là phát huy năng lực chuyên gia, công nhân kỹ thuật bậc cao để tăng thu ngoại tệ, tìm kiếm lợi nhuận ở nước ngoài [1, tr. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Mối quan hệ giữa các nước xuất và nhập khẩu lao động được thể hiện qua hình sau: Các nước xuất khẩu lao động Các nước phát triển Các nước đang phát triển Chuyên Công Đội ngũ Cán bộ Lao Lao gia cao nhân kỹ CNKT kỹ thuật động kỹ động cấp thuật theo cao cấp thuật dịch vụ lành ngành đơn giản nghề Các nước xuất khẩu lao động Các nước xuất khẩu lao động Các nước xuất khẩu lao động Hình 1.1: Các loại lao động với các nước xuất khẩu và nhập khẩu lao động Nguồn: “Overseas Labour Market Development”, September 1993 Xuất khẩu lao động ở các nước chậm phát triển và xuất khẩu lao động ở các nước đang phát triển: Các nước này có xu hướng gửi lao động phổ thông và lao động tay nghề bậc trung và bậc cao sang các nước nhập khẩu lao 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com động để thu tiền công, tăng thu nhập và tích lũy ngoại tệ, và để giảm bớt sức ép về nhu cầu việc làm trong nước. Di dân quốc tế theo các hướng trên thường gắn liền với việc hoạch định chính sách xuất khẩu lao động của mỗi quốc gia. Việt Nam cũng là một trong những nước đang phát triển có định hướng chiến lược xuất khẩu lao động.
Hiện nay, xuất khẩu lao động được coi là một hoạt động kinh tế đối ngoại của nước ta để tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động. Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo một trong bốn hình thức xuất khẩu lao động như sau: 1 – Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, tổ chức sự nghiệp được phép hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. 2 – Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài có đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. 3 – Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề với doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc dưới hình thức thực tập nâng cao tay nghề.
4 – Hợp đồng cá nhân. Những yếu tố dẫn đến xuất khẩu lao động Xuất khẩu lao động được bắt nguồn từ các yếu tố sau: - Những biến động về nhu cầu sức lao động Đây là yếu tố khách quan gây nên xuất khẩu lao động. Ravenstien (1899) là người đầu tiên đưa lý thuyết “lực đẩy – lực hút”, phân tích các dòng dân di cư từ Ailen sang Anh hồi đầu thế kỷ XIX. Trong lý thuyết này, ông đã 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cho rằng các yếu tố “lực hút” quan trọng hơn các yếu tố “lực đẩy”.
Khi đó nông dân bị tước đoạt hết ruộng đất, đồng thời nước Anh lại cần nhiều lao động trong các xí nghiệp công nghiệp, thu nhập của công nhân cao hơn so với thu nhập của nông dân. Đây chính là “lực hút” và là nguyên nhân có di cư sang Anh. - Sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế ngày càng gia tăng giữa các nước Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng giữa các tầng lớp chủ sở hữu tư liệu sản xuất và người lao động trong mỗi quốc gia. Sự phân hóa về trình độ phát triển và sự phân chia các nước tư bản thành những nhóm nước giàu và nhóm nước nghèo ngày càng sâu sắc.
Hiện nay, sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa hai nhóm nước Tư bản phát triển và đang phát triển ngày càng tăng. Theo số liệu thống kê năm 1770, tổng sản phẩm xã hội tính theo đầu người ở các nước phương Tây chỉ gấp 1,2 mức của các nước châu Á, Phi và Mỹ Latinh. Tuy vậy, 200 năm sau, chỉ tiêu đó ở các nước tư bản phát triển đã tăng lên 15,5 lần, trong khi đó ở các nước đang phát triển chỉ tăng lên 2 lần. - Sự chênh lệch vì mức tăng dân số tự nhiên Sự chênh lệch về tốc độ gia tăng dân số cộng với tình trạng khác nhau ngày càng tăng về trình độ phát triển kinh tế là nguyên nhân gây ra hiện tượng xuất cư từ nước có mức tăng dân số cao hơn và trình độ phát triển kinh tế thấp đến các nước có tốc độ tăng dân số thấp hơn và trình độ phát triển cao hơn.
Mỗi năm dân số tăng thêm khoảng 83 triệu người, trong đó 82 triệu người sống ở các nước đang phát triển. - Sự tăng thu thêm ngoại tệ, tăng thu ngân sách, thu nhập và nâng cao trình độ chuyên môn cho người đi làm việc ở nước ngoài 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo IMF, chỉ riêng số tiền các lao động làm việc ở Mỹ gửi về các nước Nam Mỹ đã đạt 32 tỷ USD. ADB cũng cho biết năm 2002, lao động ở các nước Châu Á – Thái Bình Dương gửi về nước 30 tỷ USD thu nhập từ việc làm ở các nước ngoài hàng năm. Các chuyên gia về xuất khẩu lao động khẳng định trên thực tế số tiền gửi về nước còn cao hơn nhiều so với thống kê chính thức.
Hơn nữa, thông qua di dân quốc tế, các nước xuất khẩu lao động còn có thêm cơ hội phát triển giao dịch thương mại và đầu tư. Những điều kiện để thực hiện xuất khẩu lao động Trong các hoàn cảnh xuất khẩu bình thường thì các nhân tố kinh tế là nguyên nhân chính dẫn đến di cư, sau đó là cơ hội thăng tiến, phát triển cá nhân, hợp lý hóa gia đình. Để điều này diễn ra được đòi hỏi những điều kiện nhất định dưới đây: Thứ nhất, để số sức lao động dư thừa ở một nước nào đó có thể xuất cư ra ngoài cần phải tạo điều kiện để nó biến thành hàng hóa, thành đối tượng mua – bán giữa các nước. Thứ hai, để có thể di chuyển quốc tế sức lao động, cần phá vỡ các trở ngại về quan hệ xã hội như quan hệ gia trưởng, phong kiến, công xã, bộ lạc… Ở nhiều nước như Châu Phi, Đông Nam Á, trong những thời kỳ lịch sử kéo dài không hề biết đến hiện tượng di dân vì lý do kinh tế một ý chủ ý.
Nếu có xảy ra thì cũng do bị cưỡng bức (buôn bán nô lệ, bắt phu đi đồn điền…) hay các xung đột tôn giáo, chủng tộc, chiến tranh… Đó cũng là vì ảnh hưởng của tâm lý bài ngoại thái quá mà nhiều dân tộc, nhiều bộ lạc, sắc tộc cam chịu đói nghèo chứ nhất định không chịu xuất cư. Thứ ba, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế tư bản đã vượt ra ngoài phạm vi của mỗi quốc gia. Nói cách khác không chỉ nền kinh tế bị quốc tế hóa mà bản thân người lao động làm thuê cũng chịu tác động tương tự, giống 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com như “tư bản đi đâu, người vô sản phải bám theo đó”. Luồng di chuyển quốc tế của tư bản quyết định hướng và lượng của sức lao động phải di cư theo.
Thứ tư, để các nước tham gia vào quá trình trao đổi quốc tế, không những cần có trao đổi về hàng hóa (lao động vật hóa) mà còn phải có trao đổi về sức lao động (lao động tiềm năng). Sự hoàn thiện không ngừng của các phương tiện giao thông vận tải, công nghệ thông tin đã thúc đẩy quá trình di chuyển quốc tế sức lao động nói chung và xuất khẩu lao động nói riêng. Phát triển hệ thống giao thông vận tải giúp giảm chi phí trong hoạt động xuất khẩu lao động cũng như tạo thuận lợi cho việc chuyển lao động ra nước ngoài và nhận lao động về nước, từ đó xuất khẩu lao động sẽ diễn ra thường xuyên và mạnh mẽ hơn. Chỉ tiêu nói lên mức độ ảnh hưởng của di chuyển quốc tế sức lao động đối với nước nhập cư là tỷ trọng lao động nhập cư trong tổng nguồn sức lao động của nước đó.
Còn đối với nước xuất cư là tỷ trọng lao động xuất cư trong tổng nguồn lao động của họ. Hiệu quả kinh tế - xã hội của hoạt động xuất khẩu lao động Xuất khẩu lao động được coi như một giải pháp góp phần tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cá nhân, tích lũy chuyển về nước và tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước. Hiệu quả kinh tế - xã hội của xuất khẩu lao động được thể hiện ở các mặt như sau: - Tạo việc làm cho người lao động “Việc làm” được hiểu là những hoạt động có ích không bị pháp luật ngăn cấm và đem lại thu nhập cho người lao động [4, tr.