Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của khóa luận gồm 3 chƣơng: Chƣơng I. Một số vấn đề chung về xóa án tích đối với ngƣời dƣới 18 tuổi. Chƣơng II. Quy định về xóa án tích đối với ngƣời dƣới 18 tuổi trong Luật Hình sự Việt Nam.
Chƣơng III. Thực tiễn áp dụng các quy định về xóa án tích đối với ngƣời dƣới 18 tuổi, những vƣớng mắc và một số kiến nghị hoàn thiện. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XÓA ÁN TÍCH ĐỐI VỚI NGƢỜI DƢỚI 18 TUỔI 1. Khái niệm án tích, xóa án tích.
Án tích và hậu quả pháp lý của việc mang án tích Tội phạm, hình phạt là những vấn đề quan trọng trong pháp luật Hình sự Việt Nam. Trên cơ sở hành vi phạm tội sẽ bị Tòa án kết tội và họ phải chấp hành các biện pháp cƣỡng chế của nhà nƣớc đồng thời sẽ phải mang những dấu vết bất lợi - án tích. Vấn đề án tích đã đƣợc đề cập lần đầu tiên trong BLHS năm 1985 và vẫn tồn tại đến nay. Tuy nhiên vẫn chƣa có một văn bản pháp lý nào định nghĩa về nó.
Do đó khái niệm và nội hàm của nó vẫn chƣa đƣợc hiểu thống nhất. Theo từ điển Luật học, án tích là “là đặc điểm xấu (hậu quả) về nhân thân của ngƣời bị kết án và áp dụng hình phạt đƣợc ghi và lƣu lại trong LLTP trong thời gian luật định” [16-tr. Nghĩa là khi ngƣời phạm tội bị kết án về tội danh nào đó trong BLHS và bị Tòa án áp dụng hình phạt thì sẽ bị lƣu lại trong LLTP, sau khi ngƣời đó chấp hành xong hình phạt thì có thể đƣợc xóa án tích nếu đủ các điều kiện mà BLHS quy định. Quan điểm của GS.
Nguyễn Ngọc Hòa: “Án tích là đặc điểm xấu về nhân thân của ngƣời đã bị kết án và áp dụng hình phạt, đƣợc ghi và lƣu lại trong LLTP trong thời gian nhất định, là hậu quả pháp lý bất lợi cho ngƣời có đặc điểm đó. Mặt khác “án tích đƣợc hiểu một cách bao quát và trƣớc hết ở chỗ chủ thể đã bị kết án và áp dụng hình phạt về một tội phạm nhất định và chƣa đƣợc xóa án tích” [12- tr. Đây là quan điểm chỉ khá rõ bản chất của án tích cũng nhƣ các đặc điểm pháp lý của án tích. Quan điểm này chú trọng đến vấn đề đặc điểm nhân thân của ngƣời mang án tích.
Trong thực tế, án tích là một đặc điểm xấu về nhân thân của ngƣời phạm tội, trong đó dấu hiệu “có tiền án” chính là đặc điểm để nhận diện ngƣời đó có án tích hay không. Việc một ngƣời mang án tích có thể sẽ mang lại nhiều hậu quả pháp lý bất lợi cho ngƣời đó. 8 Theo quan điểm của PGS. Phạm Hồng Hải thì án tích đƣợc hiểu là: “Hậu quả pháp lý của bản án kết tội mà Tòa án tuyên đối với ngƣời phạm tội, là một tình tiết có ý nghĩa pháp lý trong việc đánh giá tính chất nguy hiểm của tội phạm và của ngƣời phạm tội khi tội phạm đƣợc thực hiện trong thời gian ngƣời ấy mang án tích” [27-tr.
Quan điểm này đã chỉ ra đƣợc án tích là hậu quả pháp lý bất lợi chỉ áp dụng cho ngƣời phạm tội thông qua bản án kết tội của Tòa án. Nhƣng điểm bất lợi thể hiện ở chỗ nó sẽ đƣợc coi là một điều kiện để đánh giá mức độ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, đó là tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm, nếu nhƣ ngƣời đó tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội trong thời gian chƣa đƣợc xóa án tích. Nguyễn Tuyết Mai: “Án tích là một trong những hậu quả pháp lý của việc bị kết án, gắn với ngƣời bị kết án” [10-tr. Quan điểm này có nhiều nét tƣơng đồng với quan điểm nêu trên, chƣa phản ánh đúng bản chất của án tích.
Cần đƣợc hiểu án tích là hậu quả pháp lý phát sinh đối với ngƣời bị kết án, nhƣng ngƣời đó phải chịu hình phạt, khi chấp hành xong hình phạt đó và có đủ các điều kiện thì đƣợc xóa án tích. Nguyễn Cao Cƣờng có quan điểm: “Án tích là sự kiện pháp lý hình sự phát sinh khi ngƣời phạm tội bị kết án, phải chịu hình phạt theo quyết định của bản án đã có hiệu lực pháp luật, ngƣời bị kết án đó phải gánh chịu án tích trong khoảng thời gian nhất định kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật đến khi án tích đó đƣợc xoá bỏ theo quy định của pháp luật” [18-tr. Nhƣ vậy, ta thấy có rất nhiều các quan điểm khác nhau về khái niệm án tích. Trên cơ sở nghiên cứu, tiếp thu các quan điểm nêu trên, có thể đƣa ra định nghĩa khoa học về án tích nhƣ sau: Án tích là hậu quả pháp lý bất lợi của người phạm tội bị kết án và áp dụng hình phạt theo bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án, buộc người bị kết án đó phải gánh chịu án tích trong khoảng thời gian nhất định kể 9 từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi hậu quả pháp lý đó được xóa bỏ theo quy định của pháp luật Hình sự.
Tuy các quan điểm về khái niệm án tích của các tác giả là không thống nhất, nhƣng có thể thấy đƣợc một số đặc điểm cơ bản chung về án tích nhƣ sau: Thứ nhất, án tích là sự kiện pháp lý hình sự phát sinh khi ngƣời phạm tội bị kết án, phải chịu hình phạt theo quyết định của bản án đã có hiệu lực pháp luật. Án tích chỉ nên coi là sự kiện pháp lý hình sự, bởi lẽ sự kiện đó có quá trình phát sinh, hình thành và mất đi. Một ngƣời có hành vi phạm tội và bị kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án và phải chịu hình phạt thì mới phát sinh án tích. Còn những trƣờng hợp ngƣời bị kết án nhƣng thuộc trƣờng hợp không có án tích nhƣ: đƣợc miễn hình phạt, bị áp dụng các biện pháp tƣ pháp tại Điều 96 BLHS năm 2015,.thì sẽ không làm phát sinh sự kiện pháp lý về án tích.
Thứ hai, án tích tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định. Án tích mang lại rất nhiều hậu quả pháp lý bất lợi nên không thể buộc ngƣời bị kết án phải chịu suốt đời, bằng chính sách nhân đạo của mình pháp luật hình sự đã quy định, án tích chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định và khi đáp ứng đủ điều kiện luật định sẽ đƣợc xóa bỏ. Nhƣ vậy, án tích chỉ tồn tại từ khi bản án đó có hiệu lực pháp luật cho đến khi ngƣời phạm tội đƣợc xóa án tích theo quy định của pháp luật (đƣơng nhiên xoá án tích hoặc xóa án tích theo quyết định của Tòa án). Thứ ba, thời gian mang án tích đó chính là thời gian “thử thách” đối với ngƣời bị kết án đã chấp hành xong hình phạt.
Việc quy định trong khoảng thời gian nhất định nếu ngƣời bị kết án chấp hành xong bản án mà không phạm tội mới thì sẽ đƣợc xoá án tích theo quy định và ngƣời bị kết án đó đƣợc coi nhƣ chƣa bị kết án. Đó đƣợc xem nhƣ khoảng thời gian thử thách với ngƣời bị kết án để xem xét ý thức cải tạo của họ, họ đã thật sự hoàng lƣơng hay chƣa, nếu không phạm tội mới trong thời gian này thì sẽ đƣợc đƣơng nhiên xóa án tích, còn trong trƣờng hợp ngƣợc lại thì họ vẫn phải mang án tích. 10 Thứ tư, ngƣời mang án tích phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi nhất định. Đối với chế tài hình sự thì sau khi chấp hành xong hình phạt, trách nhiệm pháp lý của họ vẫn chƣa chấm dứt, họ vẫn bị coi là có án tích trong một khoảng thời gian nhất định.
Việc đặt ra án tích sẽ gây ra rất nhiều bất lợi cho ngƣời bị kết án. Sự bất lợi đó đƣợc thể hiện ở các phƣơng diện sau: Một là, án tích để lại đặc điểm xấu về nhân thân cho ngƣời bị kết án, làm hạn chế một số quyền công dân của họ. Án tích nhƣ một “vết nhơ” trong lý lịch của ngƣời phạm tội, có thể phải chịu sự kì thị, xa lánh từ xã hội. Bên cạnh đó, pháp luật cũng đặt ra một số quy định đối với những ngƣời mang án tích, làm hạn chế một số quyền của họ.
Ví dụ: ngƣời chƣa đƣợc xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của ngƣời khác thì sẽ không đƣợc nhận nuôi con nuôi (Điều 14 Luật nuôi con nuôi năm 2010), ngƣời chƣa đƣợc xóa án tích thì không đƣợc đăng ký dự tuyển công chức (Điểm c khoản 2 Điều 36 Luật Cán bộ, công chức năm 2008). Hai là, án tích là cơ sở để xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm (theo Điều 53 BLHS năm 2015), để xác định tình tiết tăng nặng TNHS, định khung hình phạt hoặc định tội danh trong một số trƣờng hợp. Ví dụ nhƣ: Dấu hiệu tái phạm nguy hiểm là một trong những dấu hiệu định khung tăng nặng của Tội cố ý gây thƣơng tích (khoản 2 Điều 134 BLHS năm 2015) hoặc có thể là cơ sở định tội đối với một số trƣờng hợp phạm tội chƣa đủ yếu tố cấu thành nhƣng có tình tiết chƣa đƣợc xóa án tích (Điểm b khoản 1 Điều 172, 173, 174,…BLHS năm 2015). Ba là, án tích còn làm hạn chế quyền của một số ngƣời liên quan.
Ngoài việc gây ra những hậu quả bất lợi cho chính bản thân ngƣời bị kết án thì trong một số trƣờng hợp nó cũng làm hạn chế quyền của một số ngƣời liên quan.Ví dụ nhƣ nếu muốn dự tuyển vào ngành công an nhân dân mà có ngƣời thân (cha, mẹ) đã từng có tiền án, kể cả trƣờng hợp đã đƣợc xóa án tích thì vẫn không đƣợc xét tuyển, sơ 11 1 tuyển vào lực lƣợng Công an nhân dân. Cụ thể, nhƣ trƣờng hợp của em Trƣơng Hƣơng L (Nghệ An) trong kỳ thi tuyển sinh cao đẳng, đại học năm 2017 em đạt số điểm là 26.5, số điểm cao nhất của khối D nhƣng vì lý do mẹ của em đã từng phạm tội và bị kết án nên em không đƣợc xét tuyển vào trƣờng Công an nhân dân, mặc 2 dù mẹ em đã đƣợc xóa án tích trƣớc đó.