Nghiên cứu quy định xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi theo Bộ luật Hình sự 2015

Chuyên khảo luật học phân tích Luận văn xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi theo quy định của bộ luật hình sự năm 2015, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên

Chuyên ngành

Luật Hình Sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2021

82
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XÓA ÁN TÍCH ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI

1.1. Khái niệm án tích, xóa án tích

1.2. Án tích và hậu quả pháp lý của việc mang án tích

1.3. Xóa án tích và ý nghĩa của xóa án tích

1.4. Khái niệm người dưới 18 tuổi bị kết án và chính sách pháp luật hình sự của nhà nước đối với người dưới 18 tuổi bị kết án

1.4.1. Khái niệm về người dưới 18 tuổi bị kết án

1.4.2. Chính sách pháp luật của nhà nước đối với người dưới 18 tuổi bị kết án

1.5. Khái niệm, điều kiện, thủ tục xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi

1.5.1. Khái niệm xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi

1.5.2. Điều kiện xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi

1.5.3. Thủ tục xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi

1.6. Quy định của pháp luật một số nước trên thế giới về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi

1.6.1. Quy định của pháp luật Cộng hòa Pháp về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi

1.6.2. Quy định của pháp luật Nhật Bản về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi

1.6.3. Quy định của pháp luật Liên Bang Nga về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi

1.7. KẾT LUẬN CHƯƠNG I

2. CHƯƠNG II: QUY ĐỊNH VỀ XÓA ÁN TÍCH ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

2.1. Khái quát quy định về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi giai đoạn trước khi ban hành BLHS năm 2015

2.1.1. Quy định về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi trước khi ban hành BLHS năm 1985

2.1.2. Quy định về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi trong BLHS năm 1985

2.1.3. Quy định về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi trong BLHS năm 1999

2.2. Quy định của BLHS năm 2015 về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi

2.3. Quy định về các trường hợp không có án tích đối với người dưới 18 tuổi

2.4. Quy định về đương nhiên xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi

2.5. Quy định xóa án tích trong trường hợp đặc biệt đối với người dưới 18 tuổi

2.6. Quy định về cách tính thời hạn xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi

2.7. KẾT LUẬN CHƯƠNG II

3. CHƯƠNG III: THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ XÓA ÁN TÍCH ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI, NHỮNG VƯỚNG MẮC VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN

3.1. Thực tiễn áp dụng các quy định về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi

3.2. Đánh giá khái quát về việc xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi

3.3. Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và áp dụng

3.4. Kiến nghị hoàn thiện các quy định về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi

3.5. KẾT LUẬN CHƯƠNG III

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi

Xóa án tích là một quy định quan trọng trong pháp luật hình sự Việt Nam, đặc biệt là đối với người dưới 18 tuổi. Theo Bộ luật hình sự năm 2015, việc xóa án tích không chỉ giúp người phạm tội có cơ hội tái hòa nhập cộng đồng mà còn thể hiện chính sách khoan hồng của nhà nước. Đối tượng này thường gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm và hòa nhập xã hội do án tích gây ra. Do đó, việc hiểu rõ quy định về xóa án tích là rất cần thiết.

1.1. Khái niệm xóa án tích và ý nghĩa của nó

Xóa án tích là việc xóa bỏ hậu quả pháp lý của bản án hình sự, giúp người bị kết án có thể phục hồi quyền lợi. Điều này đặc biệt quan trọng đối với người dưới 18 tuổi, khi mà họ đang trong giai đoạn phát triển và cần có cơ hội để sửa chữa sai lầm.

1.2. Hệ thống pháp luật Việt Nam về xóa án tích

Hệ thống pháp luật Việt Nam quy định rõ ràng về xóa án tích trong Bộ luật hình sự năm 2015. Các quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi của người dưới 18 tuổi, giúp họ có cơ hội làm lại cuộc đời và hòa nhập với xã hội.

II. Vấn đề và thách thức trong việc xóa án tích

Mặc dù có quy định rõ ràng về xóa án tích, nhưng thực tế vẫn tồn tại nhiều thách thức trong việc áp dụng. Nhiều người dưới 18 tuổi gặp khó khăn trong việc chứng minh đủ điều kiện để được xóa án tích. Điều này dẫn đến việc họ vẫn phải mang án tích, gây ảnh hưởng đến cuộc sống và tương lai của họ.

2.1. Những khó khăn trong thủ tục xóa án tích

Thủ tục xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi thường phức tạp và thiếu hướng dẫn cụ thể. Điều này khiến nhiều người không biết cách thực hiện hoặc không đủ thông tin để hoàn thành thủ tục.

2.2. Tác động của án tích đến quyền lợi của người dưới 18 tuổi

Án tích gây ra nhiều hậu quả pháp lý bất lợi cho người dưới 18 tuổi, như hạn chế quyền công dân và cơ hội việc làm. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân mà còn đến sự phát triển của xã hội.

III. Phương pháp xóa án tích hiệu quả cho người dưới 18 tuổi

Để xóa án tích hiệu quả cho người dưới 18 tuổi, cần có những phương pháp và giải pháp cụ thể. Việc cải thiện quy trình xóa án tích sẽ giúp nhiều người trẻ có cơ hội tái hòa nhập cộng đồng và phát triển bản thân.

3.1. Cải cách thủ tục xóa án tích

Cần đơn giản hóa thủ tục xóa án tích để người dưới 18 tuổi dễ dàng tiếp cận. Việc này có thể bao gồm việc cung cấp thông tin rõ ràng và hướng dẫn cụ thể cho đối tượng này.

3.2. Tăng cường giáo dục pháp luật cho người trẻ

Giáo dục pháp luật cho người dưới 18 tuổi về quyền lợi và nghĩa vụ của họ trong việc xóa án tích là rất cần thiết. Điều này giúp họ hiểu rõ hơn về quy trình và quyền lợi của mình.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về xóa án tích

Nghiên cứu về xóa án tích cho thấy rằng việc áp dụng các quy định hiện hành vẫn còn nhiều bất cập. Tuy nhiên, một số trường hợp đã thành công trong việc xóa án tích, giúp người trẻ tái hòa nhập cộng đồng.

4.1. Các trường hợp thành công trong xóa án tích

Có nhiều trường hợp người dưới 18 tuổi đã thành công trong việc xóa án tích, nhờ vào sự hỗ trợ từ các tổ chức xã hội và gia đình. Những câu chuyện này cần được lan tỏa để khuyến khích những người khác.

4.2. Đánh giá hiệu quả của quy định xóa án tích

Đánh giá hiệu quả của quy định xóa án tích cho thấy rằng cần có sự điều chỉnh để phù hợp hơn với thực tiễn. Việc này sẽ giúp nâng cao hiệu quả của chính sách pháp luật đối với người dưới 18 tuổi.

V. Kết luận và tương lai của xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi

Việc xóa án tích cho người dưới 18 tuổi là một vấn đề quan trọng cần được quan tâm. Tương lai của chính sách này phụ thuộc vào sự cải cách và hoàn thiện các quy định pháp luật hiện hành.

5.1. Định hướng phát triển chính sách xóa án tích

Cần có định hướng rõ ràng trong việc phát triển chính sách xóa án tích, nhằm bảo vệ quyền lợi của người dưới 18 tuổi và tạo điều kiện cho họ tái hòa nhập.

5.2. Tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức xã hội

Nâng cao nhận thức xã hội về xóa án tích và quyền lợi của người dưới 18 tuổi là rất cần thiết. Điều này sẽ giúp giảm bớt sự kỳ thị và tạo điều kiện cho họ phát triển.

25/07/2025
Luận văn xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi theo quy định của bộ luật hình sự năm 2015

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của khóa luận gồm 3 chƣơng: Chƣơng I. Một số vấn đề chung về xóa án tích đối với ngƣời dƣới 18 tuổi. Chƣơng II. Quy định về xóa án tích đối với ngƣời dƣới 18 tuổi trong Luật Hình sự Việt Nam.

Chƣơng III. Thực tiễn áp dụng các quy định về xóa án tích đối với ngƣời dƣới 18 tuổi, những vƣớng mắc và một số kiến nghị hoàn thiện. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XÓA ÁN TÍCH ĐỐI VỚI NGƢỜI DƢỚI 18 TUỔI 1. Khái niệm án tích, xóa án tích.

Án tích và hậu quả pháp lý của việc mang án tích Tội phạm, hình phạt là những vấn đề quan trọng trong pháp luật Hình sự Việt Nam. Trên cơ sở hành vi phạm tội sẽ bị Tòa án kết tội và họ phải chấp hành các biện pháp cƣỡng chế của nhà nƣớc đồng thời sẽ phải mang những dấu vết bất lợi - án tích. Vấn đề án tích đã đƣợc đề cập lần đầu tiên trong BLHS năm 1985 và vẫn tồn tại đến nay. Tuy nhiên vẫn chƣa có một văn bản pháp lý nào định nghĩa về nó.

Do đó khái niệm và nội hàm của nó vẫn chƣa đƣợc hiểu thống nhất. Theo từ điển Luật học, án tích là “là đặc điểm xấu (hậu quả) về nhân thân của ngƣời bị kết án và áp dụng hình phạt đƣợc ghi và lƣu lại trong LLTP trong thời gian luật định” [16-tr. Nghĩa là khi ngƣời phạm tội bị kết án về tội danh nào đó trong BLHS và bị Tòa án áp dụng hình phạt thì sẽ bị lƣu lại trong LLTP, sau khi ngƣời đó chấp hành xong hình phạt thì có thể đƣợc xóa án tích nếu đủ các điều kiện mà BLHS quy định. Quan điểm của GS.

Nguyễn Ngọc Hòa: “Án tích là đặc điểm xấu về nhân thân của ngƣời đã bị kết án và áp dụng hình phạt, đƣợc ghi và lƣu lại trong LLTP trong thời gian nhất định, là hậu quả pháp lý bất lợi cho ngƣời có đặc điểm đó. Mặt khác “án tích đƣợc hiểu một cách bao quát và trƣớc hết ở chỗ chủ thể đã bị kết án và áp dụng hình phạt về một tội phạm nhất định và chƣa đƣợc xóa án tích” [12- tr. Đây là quan điểm chỉ khá rõ bản chất của án tích cũng nhƣ các đặc điểm pháp lý của án tích. Quan điểm này chú trọng đến vấn đề đặc điểm nhân thân của ngƣời mang án tích.

Trong thực tế, án tích là một đặc điểm xấu về nhân thân của ngƣời phạm tội, trong đó dấu hiệu “có tiền án” chính là đặc điểm để nhận diện ngƣời đó có án tích hay không. Việc một ngƣời mang án tích có thể sẽ mang lại nhiều hậu quả pháp lý bất lợi cho ngƣời đó. 8 Theo quan điểm của PGS. Phạm Hồng Hải thì án tích đƣợc hiểu là: “Hậu quả pháp lý của bản án kết tội mà Tòa án tuyên đối với ngƣời phạm tội, là một tình tiết có ý nghĩa pháp lý trong việc đánh giá tính chất nguy hiểm của tội phạm và của ngƣời phạm tội khi tội phạm đƣợc thực hiện trong thời gian ngƣời ấy mang án tích” [27-tr.

Quan điểm này đã chỉ ra đƣợc án tích là hậu quả pháp lý bất lợi chỉ áp dụng cho ngƣời phạm tội thông qua bản án kết tội của Tòa án. Nhƣng điểm bất lợi thể hiện ở chỗ nó sẽ đƣợc coi là một điều kiện để đánh giá mức độ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, đó là tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm, nếu nhƣ ngƣời đó tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội trong thời gian chƣa đƣợc xóa án tích. Nguyễn Tuyết Mai: “Án tích là một trong những hậu quả pháp lý của việc bị kết án, gắn với ngƣời bị kết án” [10-tr. Quan điểm này có nhiều nét tƣơng đồng với quan điểm nêu trên, chƣa phản ánh đúng bản chất của án tích.

Cần đƣợc hiểu án tích là hậu quả pháp lý phát sinh đối với ngƣời bị kết án, nhƣng ngƣời đó phải chịu hình phạt, khi chấp hành xong hình phạt đó và có đủ các điều kiện thì đƣợc xóa án tích. Nguyễn Cao Cƣờng có quan điểm: “Án tích là sự kiện pháp lý hình sự phát sinh khi ngƣời phạm tội bị kết án, phải chịu hình phạt theo quyết định của bản án đã có hiệu lực pháp luật, ngƣời bị kết án đó phải gánh chịu án tích trong khoảng thời gian nhất định kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật đến khi án tích đó đƣợc xoá bỏ theo quy định của pháp luật” [18-tr. Nhƣ vậy, ta thấy có rất nhiều các quan điểm khác nhau về khái niệm án tích. Trên cơ sở nghiên cứu, tiếp thu các quan điểm nêu trên, có thể đƣa ra định nghĩa khoa học về án tích nhƣ sau: Án tích là hậu quả pháp lý bất lợi của người phạm tội bị kết án và áp dụng hình phạt theo bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án, buộc người bị kết án đó phải gánh chịu án tích trong khoảng thời gian nhất định kể 9 từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi hậu quả pháp lý đó được xóa bỏ theo quy định của pháp luật Hình sự.

Tuy các quan điểm về khái niệm án tích của các tác giả là không thống nhất, nhƣng có thể thấy đƣợc một số đặc điểm cơ bản chung về án tích nhƣ sau: Thứ nhất, án tích là sự kiện pháp lý hình sự phát sinh khi ngƣời phạm tội bị kết án, phải chịu hình phạt theo quyết định của bản án đã có hiệu lực pháp luật. Án tích chỉ nên coi là sự kiện pháp lý hình sự, bởi lẽ sự kiện đó có quá trình phát sinh, hình thành và mất đi. Một ngƣời có hành vi phạm tội và bị kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án và phải chịu hình phạt thì mới phát sinh án tích. Còn những trƣờng hợp ngƣời bị kết án nhƣng thuộc trƣờng hợp không có án tích nhƣ: đƣợc miễn hình phạt, bị áp dụng các biện pháp tƣ pháp tại Điều 96 BLHS năm 2015,.thì sẽ không làm phát sinh sự kiện pháp lý về án tích.

Thứ hai, án tích tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định. Án tích mang lại rất nhiều hậu quả pháp lý bất lợi nên không thể buộc ngƣời bị kết án phải chịu suốt đời, bằng chính sách nhân đạo của mình pháp luật hình sự đã quy định, án tích chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định và khi đáp ứng đủ điều kiện luật định sẽ đƣợc xóa bỏ. Nhƣ vậy, án tích chỉ tồn tại từ khi bản án đó có hiệu lực pháp luật cho đến khi ngƣời phạm tội đƣợc xóa án tích theo quy định của pháp luật (đƣơng nhiên xoá án tích hoặc xóa án tích theo quyết định của Tòa án). Thứ ba, thời gian mang án tích đó chính là thời gian “thử thách” đối với ngƣời bị kết án đã chấp hành xong hình phạt.

Việc quy định trong khoảng thời gian nhất định nếu ngƣời bị kết án chấp hành xong bản án mà không phạm tội mới thì sẽ đƣợc xoá án tích theo quy định và ngƣời bị kết án đó đƣợc coi nhƣ chƣa bị kết án. Đó đƣợc xem nhƣ khoảng thời gian thử thách với ngƣời bị kết án để xem xét ý thức cải tạo của họ, họ đã thật sự hoàng lƣơng hay chƣa, nếu không phạm tội mới trong thời gian này thì sẽ đƣợc đƣơng nhiên xóa án tích, còn trong trƣờng hợp ngƣợc lại thì họ vẫn phải mang án tích. 10 Thứ tư, ngƣời mang án tích phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi nhất định. Đối với chế tài hình sự thì sau khi chấp hành xong hình phạt, trách nhiệm pháp lý của họ vẫn chƣa chấm dứt, họ vẫn bị coi là có án tích trong một khoảng thời gian nhất định.

Việc đặt ra án tích sẽ gây ra rất nhiều bất lợi cho ngƣời bị kết án. Sự bất lợi đó đƣợc thể hiện ở các phƣơng diện sau: Một là, án tích để lại đặc điểm xấu về nhân thân cho ngƣời bị kết án, làm hạn chế một số quyền công dân của họ. Án tích nhƣ một “vết nhơ” trong lý lịch của ngƣời phạm tội, có thể phải chịu sự kì thị, xa lánh từ xã hội. Bên cạnh đó, pháp luật cũng đặt ra một số quy định đối với những ngƣời mang án tích, làm hạn chế một số quyền của họ.

Ví dụ: ngƣời chƣa đƣợc xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của ngƣời khác thì sẽ không đƣợc nhận nuôi con nuôi (Điều 14 Luật nuôi con nuôi năm 2010), ngƣời chƣa đƣợc xóa án tích thì không đƣợc đăng ký dự tuyển công chức (Điểm c khoản 2 Điều 36 Luật Cán bộ, công chức năm 2008). Hai là, án tích là cơ sở để xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm (theo Điều 53 BLHS năm 2015), để xác định tình tiết tăng nặng TNHS, định khung hình phạt hoặc định tội danh trong một số trƣờng hợp. Ví dụ nhƣ: Dấu hiệu tái phạm nguy hiểm là một trong những dấu hiệu định khung tăng nặng của Tội cố ý gây thƣơng tích (khoản 2 Điều 134 BLHS năm 2015) hoặc có thể là cơ sở định tội đối với một số trƣờng hợp phạm tội chƣa đủ yếu tố cấu thành nhƣng có tình tiết chƣa đƣợc xóa án tích (Điểm b khoản 1 Điều 172, 173, 174,…BLHS năm 2015). Ba là, án tích còn làm hạn chế quyền của một số ngƣời liên quan.

Ngoài việc gây ra những hậu quả bất lợi cho chính bản thân ngƣời bị kết án thì trong một số trƣờng hợp nó cũng làm hạn chế quyền của một số ngƣời liên quan.Ví dụ nhƣ nếu muốn dự tuyển vào ngành công an nhân dân mà có ngƣời thân (cha, mẹ) đã từng có tiền án, kể cả trƣờng hợp đã đƣợc xóa án tích thì vẫn không đƣợc xét tuyển, sơ 11 1 tuyển vào lực lƣợng Công an nhân dân. Cụ thể, nhƣ trƣờng hợp của em Trƣơng Hƣơng L (Nghệ An) trong kỳ thi tuyển sinh cao đẳng, đại học năm 2017 em đạt số điểm là 26.5, số điểm cao nhất của khối D nhƣng vì lý do mẹ của em đã từng phạm tội và bị kết án nên em không đƣợc xét tuyển vào trƣờng Công an nhân dân, mặc 2 dù mẹ em đã đƣợc xóa án tích trƣớc đó.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ