Luận văn: Xây dựng nông thôn mới huyện Nông Cống, Thanh Hóa (2009-2013)

Luận văn lịch sử về xây dựng nông thôn mới huyện Nông Cống, Thanh Hóa. Phân tích, đánh giá kết quả và bài học kinh nghiệm giai đoạn 2009-2013.

Chuyên ngành

Lịch sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

117
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan luận văn xây dựng nông thôn mới Nông Cống 2009 13

Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới (NTM) là một chủ trương chiến lược của Đảng và Nhà nước, nhằm thay đổi toàn diện bộ mặt nông thôn Việt Nam. Đề tài nghiên cứu khoa học Nông Cống giai đoạn 2009-2013 của tác giả Ngô Thị Hà là một công trình quan trọng, phân tích sâu sắc quá trình triển khai và những kết quả ban đầu tại một huyện thuần nông của tỉnh Thanh Hóa. Luận văn này không chỉ là một tài liệu tham khảo giá trị cho các luận văn thạc sĩ kinh tế nông nghiệp khác mà còn cung cấp những bài học thực tiễn quý báu. Giai đoạn 2009-2013 là chặng đường đầu tiên, đặt nền móng cho cuộc vận động, đối mặt với nhiều khó khăn nhưng cũng ghi nhận những nỗ lực vượt bậc của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương. Việc đánh giá chương trình mục tiêu quốc gia tại Nông Cống trong thời kỳ này giúp làm rõ những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân cốt lõi. Luận văn tập trung vào việc hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích thực trạng xây dựng nông thôn mới trước khi triển khai, và quá trình vận dụng các chủ trương, chính sách vào điều kiện cụ thể của huyện. Qua đó, công trình nghiên cứu làm nổi bật vai trò của sự tham gia của người dânvai trò của chính quyền địa phương như những nhân tố quyết định thành công. Nội dung của luận văn cung cấp một cái nhìn toàn diện, từ việc quy hoạch, phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội, đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, và cuối cùng là những tác động trực tiếp đến đời sống người dân. Đây là một tài liệu quan trọng để hiểu rõ hơn về những bước đi đầu tiên trong hành trình xây dựng NTM tại một địa phương điển hình ở khu vực Bắc Trung Bộ.

1.1. Bối cảnh và tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu khoa học Nông Cống

Luận văn ra đời trong bối cảnh chương trình MTQG xây dựng NTM đang được triển khai mạnh mẽ trên cả nước. Huyện Nông Cống, với đặc thù là một huyện thuần nông, có gần 90% dân số hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, trở thành một điển hình thực tiễn để nghiên cứu. Trước năm 2009, dù đạt được một số thành tựu, kinh tế - xã hội của huyện vẫn còn nhiều hạn chế, hạ tầng lạc hậu, thu nhập người dân thấp. Vì vậy, việc lựa chọn đề tài “Cuộc vận động xây dựng nông thôn mới huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hoá (2009-2013)” có tính cấp thiết cao, nhằm đánh giá khách quan quá trình triển khai, rút ra những kinh nghiệm thực tiễn tại Nông Cống để áp dụng cho giai đoạn tiếp theo và các địa phương khác.

1.2. Tổng quan điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội huyện Nông Cống

Trước khi thực hiện chương trình, Nông Cống là một huyện đồng bằng nhưng có địa hình đa dạng, bao gồm cả đồi núi và vùng trũng, tạo tiềm năng phát triển nông nghiệp đa canh nhưng cũng gây ra nhiều khó khăn về giao thông và thủy lợi. Về kinh tế, dù có sự tăng trưởng, nhưng sản xuất nông nghiệp vẫn còn manh mún, nhỏ lẻ, phụ thuộc nhiều vào lao động thủ công. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp diễn ra chậm. Về xã hội, chất lượng giáo dục, y tế từng bước được cải thiện nhưng chưa đáp ứng yêu cầu; đời sống vật chất và tinh thần của người dân còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo còn cao (15,64% năm 2009). Đây chính là những thách thức lớn mà chương trình xây dựng NTM cần giải quyết.

II. Phân tích thực trạng xây dựng nông thôn mới tại Nông Cống

Trước khi bắt đầu cuộc vận động, thực trạng xây dựng nông thôn mới tại Nông Cống đối mặt với nhiều thách thức lớn. Đối chiếu với 19 tiêu chí của bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới, huyện Nông Cống chỉ đạt trung bình 5,4/19 tiêu chí (tương đương 28,4%). Đây là một xuất phát điểm rất thấp, đòi hỏi sự nỗ lực phi thường. Vấn đề lớn nhất là hệ thống kết cấu hạ tầng. Mạng lưới giao thông nông thôn tuy đã hình thành nhưng tỷ lệ được cứng hóa thấp, nhiều tuyến đường xuống cấp, gây khó khăn cho việc đi lại và vận chuyển hàng hóa. Hệ thống thủy lợi chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Chất lượng lưới điện nông thôn còn kém, gây tổn thất điện năng lớn. Bên cạnh đó, vấn đề môi trường nông thôn cũng rất nan giải, rác thải, nước thải sinh hoạt và chăn nuôi chưa được xử lý triệt để, gây ô nhiễm. Đời sống văn hóa xã hội nông thôn cũng tồn tại nhiều bất cập. Hệ thống nhà văn hóa, khu thể thao thôn, xã còn thiếu và yếu, trang thiết bị nghèo nàn. Tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp, ảnh hưởng đến việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Thu nhập bình quân đầu người thấp, chênh lệch giàu nghèo ngày càng gia tăng. Những hạn chế này là rào cản chính cho quá trình phát triển bền vững nông thôn và đòi hỏi phải có những giải pháp xây dựng nông thôn mới đồng bộ và quyết liệt.

2.1. Hạn chế trong phát triển hạ tầng kinh tế xã hội trước 2009

Kết cấu hạ tầng là điểm nghẽn lớn nhất. Giao thông nông thôn và nội đồng chưa được đầu tư đúng mức, nhiều tuyến đường liên thôn chật hẹp, không theo quy chuẩn. Hệ thống kênh mương phần lớn là kênh đất, hiệu quả tưới tiêu hạn chế. Nhiều trường học, trạm y tế đã xuống cấp, chưa đạt chuẩn quốc gia. Cơ sở vật chất văn hóa như nhà văn hóa, sân thể thao vừa thiếu về số lượng, vừa yếu về chất lượng. Mạng lưới chợ nông thôn phân bố không hợp lý, còn nhiều chợ tạm, chợ cóc, gây mất mỹ quan và an toàn giao thông. Những yếu kém này ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và chất lượng cuộc sống của người dân.

2.2. Thách thức về cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nâng cao thu nhập

Nền kinh tế huyện Nông Cống chủ yếu dựa vào nông nghiệp với phương thức sản xuất lạc hậu, manh mún. Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng hàng hóa còn rất chậm. Năng suất lao động thấp, giá trị sản phẩm không cao dẫn đến việc nâng cao thu nhập cho người dân gặp nhiều khó khăn. Thu nhập bình quân đầu người năm 2009 chỉ đạt 7,8 triệu đồng/năm, thấp hơn nhiều so với mức trung bình của tỉnh. Tỷ lệ lao động nông nghiệp còn rất cao (77,9%), trong khi số doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn còn ít, chưa tạo ra nhiều việc làm phi nông nghiệp.

III. Vai trò của chính quyền trong xây dựng NTM huyện Nông Cống

Thành công của chương trình xây dựng NTM tại Nông Cống giai đoạn 2009-2013 mang đậm dấu ấn về vai trò của chính quyền địa phương. Ngay sau khi có chủ trương của Trung ương và chỉ đạo của tỉnh Thanh Hóa, Huyện ủy, HĐND, UBND huyện Nông Cống đã nhanh chóng vào cuộc một cách quyết liệt. Huyện đã thành lập Ban Chỉ đạo (BCĐ) chương trình từ huyện đến xã, do các đồng chí Bí thư Huyện ủy, Bí thư Đảng ủy xã làm trưởng ban, thể hiện sự quyết tâm chính trị cao nhất. BCĐ đã ban hành hệ thống văn bản chỉ đạo, kế hoạch, lộ trình cụ thể cho từng giai đoạn, phân công nhiệm vụ rõ ràng cho từng thành viên, từng phòng ban. Một trong những giải pháp xây dựng nông thôn mới hiệu quả là việc huyện chủ động ban hành các cơ chế, chính sách hỗ trợ, kích cầu riêng từ ngân sách địa phương. Các chính sách này tập trung vào hỗ trợ xi măng làm đường giao thông, kiên cố hóa kênh mương, xây dựng nhà văn hóa, hỗ trợ các mô hình phát triển sản xuất. Công tác tuyên truyền, vận động được triển khai sâu rộng với nhiều hình thức đa dạng, giúp người dân hiểu rõ mục đích, ý nghĩa và vai trò chủ thể của mình. Chính quyền đã thực hiện tốt phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội, khơi dậy nội lực và sự tham gia của người dân vào công cuộc chung. Sự chỉ đạo sâu sát, linh hoạt và sáng tạo của chính quyền các cấp chính là chìa khóa mở ra những thành công bước đầu.

3.1. Chủ trương của Đảng và Nhà nước về chương trình mục tiêu quốc gia

Nền tảng pháp lý và lý luận cho cuộc vận động là Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Cụ thể hóa Nghị quyết này, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 491/QĐ-TTg về Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới và Quyết định 800/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình MTQG xây dựng NTM giai đoạn 2010-2020. Những văn bản này đã định hướng một cách toàn diện các mục tiêu, nội dung, và giải pháp, là kim chỉ nam cho các địa phương, trong đó có huyện Nông Cống, triển khai thực hiện.

3.2. Sự vận dụng của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa và huyện Nông Cống

Trên cơ sở chỉ đạo của Trung ương, Tỉnh ủy Thanh Hóa đã ban hành Chương trình hành động số 56-CTr/TU và nhiều quyết định, cơ chế chính sách riêng phù hợp với điều kiện của tỉnh. Huyện Nông Cống đã vận dụng sáng tạo các chủ trương này. Huyện đã thành lập BCĐ, Tổ chuyên viên giúp việc, phân công cụ thể các thành viên phụ trách từng xã. Đặc biệt, huyện đã xây dựng lộ trình chi tiết, xác định các xã điểm, các xã phấn đấu đạt chuẩn trong từng giai đoạn, đồng thời ban hành các chính sách kích cầu riêng như khen thưởng các xã về đích sớm, hỗ trợ phát triển sản xuất, xây dựng hạ tầng, qua đó tạo động lực mạnh mẽ cho các địa phương.

IV. Bí quyết huy động nguồn lực xây dựng NTM tại huyện Nông Cống

Một trong những bài học kinh nghiệm sâu sắc nhất từ luận văn xây dựng nông thôn mới huyện Nông Cống là công tác huy động nguồn lực xây dựng NTM. Với một huyện còn nhiều khó khăn, việc chỉ trông chờ vào ngân sách nhà nước là không thể. Do đó, huyện đã xác định nguồn lực từ cộng đồng là yếu tố quyết định. Phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” được quán triệt sâu sắc. Huyện đã đẩy mạnh tuyên truyền để người dân hiểu rằng họ chính là người hưởng lợi trực tiếp từ chương trình, từ đó tự nguyện đóng góp công sức, tiền của, hiến đất làm đường, xây dựng các công trình công cộng. Sự tham gia của người dân không chỉ dừng lại ở việc đóng góp mà còn thể hiện qua việc tham gia bàn bạc, quyết định các công trình, giám sát quá trình thi công, đảm bảo tính công khai, minh bạch. Bên cạnh đó, huyện Nông Cống đã thực hiện tốt việc lồng ghép các nguồn vốn từ các chương trình, dự án khác đang triển khai trên địa bàn như chương trình giảm nghèo, chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường, chương trình kiên cố hóa trường lớp học... Cách làm này giúp tối ưu hóa nguồn lực, tránh đầu tư dàn trải, chồng chéo. Ngoài ra, huyện cũng có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp, con em xa quê thành đạt đầu tư, ủng hộ quê hương. Tổng hợp các nguồn lực này đã tạo ra sức mạnh tổng hợp, giúp Nông Cống đạt được những kết quả xây dựng nông thôn mới ấn tượng trong giai đoạn đầu.

4.1. Phương pháp huy động sức dân và sự tham gia của người dân

Để huy động sức dân hiệu quả, Nông Cống đã tập trung vào công tác dân vận, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể. Nguyên tắc “dân chủ, công khai” được đặt lên hàng đầu. Mọi kế hoạch, dự toán công trình đều được đưa ra bàn bạc trong các cuộc họp thôn, xóm. Người dân được quyền quyết định mức đóng góp, hình thức đóng góp (tiền, ngày công, vật liệu, hiến đất) và thành lập ban giám sát cộng đồng. Nhờ vậy, người dân tin tưởng và tích cực tham gia. Hàng nghìn mét vuông đất đã được hiến, hàng vạn ngày công được đóng góp, tạo nên phong trào thi đua sôi nổi khắp các địa phương.

4.2. Chính sách lồng ghép và thu hút đầu tư từ các thành phần kinh tế

Ban Chỉ đạo huyện đã chỉ đạo các phòng, ban chuyên môn rà soát tất cả các chương trình, dự án có vốn đầu tư trên địa bàn để xây dựng kế hoạch lồng ghép một cách khoa học. Ưu tiên nguồn lực cho các tiêu chí khó, cần nhiều vốn như giao thông, thủy lợi, cơ sở vật chất văn hóa. Đồng thời, huyện cải thiện môi trường đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp chế biến, dịch vụ nông thôn. Điển hình là việc thu hút Công ty may Trường Thắng, tạo việc làm cho hàng trăm lao động, góp phần quan trọng vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và lao động tại địa phương.

V. Đánh giá kết quả xây dựng nông thôn mới Nông Cống 2009 13

Sau 5 năm triển khai, kết quả xây dựng nông thôn mới ở huyện Nông Cống đã đạt được những thành tựu quan trọng, làm thay đổi rõ rệt diện mạo nông thôn. Đến cuối năm 2013, toàn huyện đã có 2 xã đạt chuẩn NTM (Trường Sơn và Minh Thọ), bình quân toàn huyện đạt 10,8 tiêu chí/xã, tăng 5,4 tiêu chí so với năm 2009. Đây là một bước tiến vượt bậc. Một trong những thành tựu nổi bật nhất là phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội. Hàng trăm km đường giao thông nông thôn, giao thông nội đồng đã được cứng hóa; hệ thống kênh mương được kiên cố hóa, nâng cao năng lực tưới tiêu. Nhiều trường học, trạm y tế, nhà văn hóa được xây mới, nâng cấp khang trang. Đời sống vật chất và tinh thần của người dân được cải thiện đáng kể. Nâng cao thu nhập cho người dân là một điểm sáng, thu nhập bình quân đầu người tăng lên, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh. Sản xuất nông nghiệp có bước phát triển theo hướng hàng hóa, nhiều mô hình kinh tế hiệu quả được nhân rộng. Đời sống văn hóa xã hội nông thôn có nhiều chuyển biến tích cực, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Những kết quả này khẳng định tính đúng đắn của chủ trương xây dựng NTM và là tiền đề vững chắc cho phát triển bền vững nông thôn trong giai đoạn tiếp theo.

5.1. Thành tựu nổi bật theo bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới

Kết quả cụ thể thể hiện rõ qua các con số. Về giao thông (tiêu chí số 2), tỷ lệ đường trục xã, liên xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa tăng mạnh. Về thủy lợi (tiêu chí số 3), hệ thống kênh mương cấp 3 do xã quản lý được kiên cố hóa đạt tỷ lệ cao. Tiêu chí trường học (số 5) và cơ sở vật chất văn hóa (số 6) có sự cải thiện vượt bậc với nhiều công trình đạt chuẩn. Đặc biệt, tiêu chí thu nhập (số 10) và hộ nghèo (số 11) đều có sự chuyển biến tích cực, phản ánh trực tiếp hiệu quả của chương trình đối với đời sống người dân. Đến năm 2013, toàn huyện không còn xã nào đạt dưới 5 tiêu chí.

5.2. Hiệu quả nâng cao thu nhập cho người dân và đời sống vật chất

Chương trình NTM đã tạo ra động lực thúc đẩy sản xuất phát triển. Huyện đã triển khai hiệu quả các dự án cải tạo đàn bò, lợn ngoại hướng nạc, chăn nuôi gia cầm siêu thịt, siêu trứng. Nhiều trang trại, gia trại được hình thành, mang lại thu nhập cao. Các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp được duy trì và phát triển, tạo thêm việc làm. Nhờ đó, thu nhập bình quân đầu người tăng đều qua các năm, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 15,64% (năm 2009) xuống còn dưới 10% vào cuối năm 2013. Tỷ lệ nhà ở kiên cố và bán kiên cố tăng lên, nhà tạm giảm đáng kể. Đời sống vật chất được cải thiện là thành quả rõ nét nhất.

VI. Kinh nghiệm thực tiễn từ luận văn xây dựng NTM Nông Cống

Từ việc phân tích sâu sắc quá trình 5 năm đầu thực hiện chương trình, luận văn xây dựng nông thôn mới huyện Nông Cống đã rút ra nhiều kinh nghiệm thực tiễn tại Nông Cống vô cùng quý báu. Bài học quan trọng hàng đầu là phải có sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, đặc biệt là vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, chính quyền. Thứ hai, công tác tuyên truyền, vận động phải đi trước một bước, làm cho người dân hiểu rõ và đồng thuận, phát huy vai trò chủ thể của họ. Thứ ba, phải xây dựng kế hoạch, lộ trình cụ thể, khoa học, phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương, không nóng vội, chạy theo thành tích. Thứ tư, cần có cơ chế chính sách hỗ trợ, kích cầu hợp lý để tạo động lực, đồng thời phải biết cách huy động nguồn lực xây dựng NTM một cách đa dạng, đặc biệt là nguồn lực trong dân. Thứ năm, phải coi phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân là nhiệm vụ trọng tâm, là gốc của xây dựng NTM. Cuối cùng, cần thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết để kịp thời tháo gỡ khó khăn và nhân rộng các điển hình tiên tiến. Những kinh nghiệm này không chỉ có giá trị cho Nông Cống mà còn là tài liệu tham khảo hữu ích cho các địa phương khác trên con đường phát triển bền vững nông thôn.

6.1. Bài học then chốt cho quá trình phát triển bền vững nông thôn

Bài học lớn nhất là xây dựng NTM phải bắt nguồn từ nguyện vọng và lợi ích của người dân. Khi người dân thấy được lợi ích thiết thực, họ sẽ tự giác tham gia. Bên cạnh đó, không được tuyệt đối hóa các tiêu chí, mà phải vận dụng linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với đặc thù văn hóa, kinh tế của từng vùng. Việc xây dựng NTM không phải là một dự án có điểm đầu và điểm cuối, mà là một quá trình liên tục, không ngừng nghỉ, hướng tới mục tiêu cuối cùng là nâng cao toàn diện chất lượng sống của người dân nông thôn một cách bền vững.

6.2. Đề xuất các giải pháp xây dựng nông thôn mới cho giai đoạn sau

Trên cơ sở phân tích, luận văn đề xuất một số giải pháp cho giai đoạn tiếp theo. Cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách, tăng cường nguồn lực đầu tư của nhà nước cho các xã khó khăn. Đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng NTM, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, ứng dụng công nghệ cao. Quan tâm hơn nữa đến vấn đề môi trường nông thôn, xây dựng các mô hình xử lý rác thải, nước thải hiệu quả. Đồng thời, nâng cao chất lượng các tiêu chí văn hóa, giáo dục, y tế để NTM phát triển toàn diện, thực sự là nơi “đáng sống”.

15/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 KHÁI QUÁT HUYỆN NÔNG CỐNG TRƯỚC CUỘC VẬN ĐỘNG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1. Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên và các nguồn tài nguyên thiên nhiên 1. Vị trí địa lí Huyện Nông Cống nằm ở phía Tây Nam tỉnh Thanh Hóa. Về phía bắc, huyện Nông Công giáp các huyện Đông Sơn và Triệu Sơn; phía nam giáp các huyện Như Thanh và Tĩnh Gia; phía đông giáp các huyện Tĩnh Gia và Quảng Xương; phía tây giáp huyện Như Thanh.

Từ thành phố Thanh Hóa đi theo Quốc lộ 45 về phía tây - nam dài 28 km là huyện lị Nông Cống - trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của cả huyện thuộc vùng châu thổ giàu tiềm năng và truyền thống cách mạng. Toàn huyện có 33 đơn vị hành chính (31 xã và 2 thị trấn). Tổng diện tích tự nhiên là 28. Trong đó, đất nông nghiệp 14.340 ha, đất lâm nghiệp 777 ha, đất chuyên dùng 3.004 ha, đất chưa sử dụng 8.

Điều kiện tự nhiên Nông Cống là một huyện đồng bằng, nhưng địa hình khá đa dạng: Vừa có đồi núi, vừa có đồng bằng với độ chênh cao tương đối lớn. Địa hình cũng bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi tự nhiên. Có thể chia thành 2 vùng: - Vùng có địa hình đồi núi, diện tích khoảng 7.500 ha, thuộc phía Tây Bắc huyện gồm 26 xã: Tế Lợi, Tế Thắng, Trường Sơn, Trường Trung, Trường Minh, Trung Chính, Trung Ý, Trung Thành, Hoàng Giang, Hoàng Sơn, Vạn Thiện, Vạn Hòa, Vạn Thắng, Minh Thọ, Minh Nghĩa, Tân Phúc, Tân Thọ, Tân Khang, Công Chính, Công Liêm, Công Bình, Thăng Bình, Thăng Long, Thăng Thọ, Tượng Văn, Tượng Lĩnh. Cây trồng chủ yếu là cà phê, chè, cây ăn quả, cây công nghiệp mía đường.

Do địa hình đồi núi, lại lắm khe, suối, mỗi khi 11 mưa to, nước từ núi Nưa trút xuống các khe suối và sông Yên, nhưng lại thoát nước chậm nên đã gây ra nạn úng lụt, ảnh hướng tới sản xuất và đời sống. - Vùng đồng bằng châu thổ Nông Cống khá rộng lớn, có diện tích 21.210 ha, chiếm 74% diện tích tự nhiên toàn huyện; nổi lên nhiều núi đá vôi nhỏ, đồi gò thấp xen kẽ những vùng thấp, lầy thụt. Năm xã không có đồi núi là Tế Nông, Tế Tân, Trường Giang, Minh Khôi và thị trấn Nông Cống. Do địa hình đồng bằng, có phù sa sông bồi đắp nên vùng này thích hợp cho việc trồng các loại cây lương thực và hoa màu.

Như vậy, địa hình đa dạng (đồi núi, đồng bằng và những vùng trũng lầy.) đã tạo ra một vùng châu thổ giàu tiềm năng cho phép phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp đa dạng, nhưng cũng gây ra những khó khăn, cách trở, bất cập trong quá trình tổ chức sản xuất. Nghề trồng trọt chủ yếu là cây lúa. Nghề chăn nuôi theo phương thức hộ gia đình, chủ yếu là chăn nuôi lợn, gia cầm, nuôi trồng thủy sản cá nước ngọt và nước lợ. Nông Cống nằm trong tiểu vùng khí hậu đồng bằng (Ia), có các đặc trưng sau: Tổng nhiệt độ trung bình năm: 8.600ºC; biên độ năm 11-12ºC; biên độ ngày 6-7ºC.

Lượng mưa trung bình hằng năm 1. Tháng 9 có lượng mưa lớn nhất, xấp xỉ 400 mm. Độ ẩm không khí trung bình hằng năm 85 - 86%. Lượng nước bốc hơi trung bình khoảng 854 mm.

Tốc độ gió trung bình hằng năm 1,5 - 1,8 m/s. Thiên tai thường xảy ra bão, lũ, úng, hạn cục bộ. Nông Cống là địa bàn chịu ảnh hướng của hệ thống sông Yên, ảnh hưởng trực tiếp của các con sông: Sông Nhơm, Sông Mực, Sông Thị Long. Sông Yên có chế độ bán nhật triều, vào những ngày triều cường trong mùa cạn nước mặn có thể xâm nhập vào tận cầu Chuối.

12 BẢ ẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH HUYỆN N NÔNG CỐ CỐNG 13 Chế độ thủy văn chia thành 2 vùng: - Vùng thủy văn đồi núi: Mùa đông khô hanh, gió rét; mùa mưa thường có lũ quét nhỏ xảy ra, gây xói mòn ở vùng cao và lũ lụt vùng thấp. - Vùng thủy văn đồng bằng: Chịu ảnh hưởng trực tiếp của con sông Nhơm, sông Thị Long và sông Chuối. Thủy triều thuộc chế độ bán nhật triều nên đồng ruộng ven sông thuộc các xã khu vực phía Đông huyện bị nhiễm mặn, tập trung ở các xã Trường Giang, Tượng Văn, Tượng Lĩnh, Tượng Sơn, Trường Trung, Trường Minh, Minh Khôi, Tế Nông… khoảng 470 ha. Các nguồn tài nguyên thiên nhiên * Tài nguyên đất: Đất đai được hình thành từ 2 dạng: Dạng địa thành, tức đá mẹ phong hóa tại chỗ lâu đời mà thành; Dạng thủy thành là do nước sông đem phù sa bồi đắp lâu dài mà thành.

Đất đai Nông Cống bao gồm các loại: Phù sa không được bồi hằng năm, đất mặn ít và nhóm đất đồi núi. Trong quá trình canh tác, đất cũng được biến đổi thành nhiều loại nhỏ. Nhìn chung đất đai của Nông Cống phù hợp với các loại cây trồng nông nghiệp hằng năm, lâu năm, tạo điều kiện để phát triển nền nông nghiệp đa canh. Đáng chú ý là đất phù sa toàn huyện có 15.540 ha, gồm các loại: Phù sa bão hòa bazơ (Fle-a), nằm ngoài đê các con sông, thuộc các xã: Tân Thọ, Tân Khang, Tế Tân, Tế Thắng, Hoàng Giang, Tế Nông, Minh Khôi, Thăng Thọ, Trường Minh; phù sa bão hòa Bazơ kết vón nông (Fle-fel) nằm dọc theo sông hoặc các dải đất cao trong đồng bằng; phù sa glây (đất chua và ít chua, thích nghi trồng lúa nước nhưng cần dùng vôi để cải tạo độ chua của đất), bão hòa bazơ (FLg-e) có hàm lượng mùn và đạm giàu, lân và kali nghèo, thuộc các xã: Thăng Bình, Trường Minh, Trường Giang, Tượng Văn.

* Tài nguyên nước: Gồm có nước mặt và nước ngầm. Nguồn nước mặt của huyện Nông Cống khá dồi dào vì có hệ thống sông 14 suối tự nhiên cùng với các hồ chứa nước, các kênh tưới; lượng mưa lại lớn. Hằng năm, tổng lượng nước do dòng chảy sông ngòi cung cấp trung bình 1 tỉ mét khối, trong đó nước do mưa sinh ra trên địa phận trên dưới 400 triệu mét khối, nếu được điều tiết có thể thỏa mãn nhu cầu phát triển sản xuất và đời sống. Việc khai thác nước mặt còn gặp nhiều khó khăn do nguồn nước phân bố không đều giữa các mùa trong năm và các vùng trong huyện.

Muốn khai thác có hiệu quả phải đầu tư mở rộng và xây dựng các hồ đập, ao đầm. để chứa nước kết hợp với nuôi cá nước ngọt. Theo tài liệu của Trạm Dự báo và Khí tượng Thủy văn Thanh Hóa (tháng 2/1998), nguồn nước ngầm ở huyện Nông Cống nằm trong dải nước ngầm của đồng bằng Thanh Hóa với địa chất là trầm tích hệ thứ 4 có bề dày trung bình 60 m. Chất lượng nước ngầm chưa bị ô nhiễm.

Có thể khẳng định, nguồn tài nguyên nước huyện Nông Cống có khả năng đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trên địa bàn. * Tài nguyên rừng Nông Cống có 2.081,57 ha rừng, chiếm 7,26% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện; trong đó rừng sản xuất có 823,80 ha, chiếm 2,88% tổng diện tích tự nhiên; đất rừng phòng hộ có 1.257,77 ha, chiếm 4,39% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện. * Tài nguyên khoáng sản Theo tài liệu báo cáo hiện trạng sản xuất công nghiệp, tài nguyên khoáng sản năm 1998 của Sở Công nghiệp Thanh Hóa, huyện Nông Cống có Than bùn, phốt pho rít, secpentin, mỏ đá vôi, mỏ sét, phụ gia xi măng, quặng Bazan Crom mit… Tuy trữ lượng không nhiều, nhưng những nguồn khoáng sản này nếu được khai thác tốt sẽ góp phần đáng kể vào việc phát triển sản xuất và tăng nguồn thu nhập của huyện. 15 Tóm lại, “đất đai, sông ngòi, đồi núi, thời tiết, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên ở Nông Cống đã kết hợp và tạo nên một vùng quê giàu tiềm năng kinh tế nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, du lịch” [2, Tr.

Đặc điểm kinh tế, xã hội huyện Nông Cống 1. Đặc điểm kinh tế Trong không khí tưng bừng, phấn khởi sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, Đảng bộ, nhân dân Nông Cống bắt tay vào công cuộc tái thiết quê hương. Từ tình trạng kiệt quệ sau chiến tranh, sản xuất nông nghiệp mất mùa, năng suất thấp, đời sống nhân dân khó khăn, nền kinh tế huyện Nông Cống từng bước ổn định và phát triển toàn diện, đem lại những giá trị mới. Năm 1976 là năm được mùa nhất so với những năm trước đó, với tổng sản lượng lương thực trên địa bàn huyện đạt 44.

Từ sau khi có Chỉ thị 100 CT/TW (13/1/1981) của Ban Bí thư Trung ương Đảng về Cải tiến công tác khoán, mở rộng "khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện phát triển mạnh hơn trước. Sản lượng lương thực năm 1985 đạt 53. Bình quân lương thực đầu người năm 1981 là 264kg, đến năm 1985 tăng lên 365kg. Do sản xuất phát triển, nên kết quả làm nghĩa vụ lương thực của huyện đối với Nhà nước ngày càng tăng, từ 5.

Các ngành sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp có những bước chuyển biến mới, với năng suất lao động cao không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của nhân dân, mà còn mang lại giá trị xuất khẩu lớn. Năm 1985, giá trị xuất khẩu các mặt hàng sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của huyện đạt 2,3 triệu đồng, tăng gấp 21 lần so với năm 1985 [2, tr. Tuy đạt nhiều thành tựu quan trọng, nhưng sau 10 năm, đến năm 1985, nền kinh tế ở huyện Nông Cống vẫn trong tình trạng kém phát triển, bị trói 16 buộc bởi cơ chế tập trung quan liêu bao cấp; tốc độ tăng trưởng không đáp ứng yêu cầu xã hội. Đời sống nhân dân khó khăn, thiếu thốn.

Từ năm 1986, vận dụng đường lối đổi mới của Đảng vào hoàn cảnh địa phương, huyện Nông Cống từng bước vượt qua những khó khăn, thách thức; các thành phần kinh tế được khuyến khích đầu tư phát triển, xóa đói, giảm nghèo, đẩy lùi khủng hoảng kinh tế, tạo ra những điều kiện vật chất tái sản xuất mở rộng. Từ một nền sản xuất nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, năng suất, sản lượng thấp, sau 10 năm đổi mới đã tạo ra sản lượng lương thực tăng gấp hai lần; riêng năm 1995 đạt 78. An ninh lương thực trên địa bàn được giải quyết vững chắc. Chăn nuôi trở thành ngành sản xuất hàng hóa và tạo ra giá trị mới tăng gấp nhiều lần thời kì bao cấp.

Năm 1995, đàn bò tăng 9,5%, đàn lợn tăng 91% so với năm 1985. Giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại - dịch vụ không ngừng tăng, làm thay đổi tỉ trọng trong cơ cấu kinh tế của huyện.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ