Chương 1: Những vấn đề chung về quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài. Chương 2: Những qui định của pháp luật Việt nam và các Điều ước quốc tế mà Việt nam ký kết điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài. Chương 3: Thực trạng và những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam và điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUAN HỆ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI 1.
Khái niệm Quan hệ kết hôn có yếu tố nƣớc ngoài 1. Khái niệm kết hôn Kết hôn xác lập quan hệ hôn nhân và là cơ sở hình thành gia đình – tế bào xã hội. Trong mỗi chế độ xã hội, gia đình đều thực hiện chức năng cơ bản là duy trì nòi giống, sản sinh ra con người giúp xã hội phát triển nên “Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt”[ ]. Hôn nhân là một hiện tượng xã hội đặc biệt, trong đó các bên chủ thể gắn kết với nhau với mục đích tạo dựng một tế bào của xã hội là gia đình.
Khác với các quan hệ dân sự bình thường, mục đích của các chủ thể trong quan hệ hôn nhân không nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất hay tinh thần trong một thời điểm nhất định mà nhằm xác lập mối quan hệ lâu dài. Hôn nhân là sự liên kết đặc biệt giữa một người nam và một người nữ, sự liên kết đó phải được Nhà nước thừa nhận dưới một hình thức pháp lý nhất định, đó là đăng ký kết hôn. Theo qui định khoản 2, Điều 8, Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam 2000, kết hôn là “việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo qui định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”. Như vậy, pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam qui định việc kết hôn phải đảm bảo hai yếu tố: - Hai bên nam, nữ phải thể hiện ý chí muốn kết hôn với nhau để xác lập quan hệ vợ chồng.
Đảm bảo hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, không được cưỡng ép kết hôn hoặc kết hôn giả tạo, lừa dối để kết hôn, cấm tảo hôn. Điều đó có nghĩa kết hôn phải đảm bảo độ tuổi, đảm bảo sự phát triển tâm sinh lý ổn định 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đồng thời đảm bảo sự tự nguyện đến với nhau của người nam và nữ. Kết hôn để thiết lập quan hệ hôn nhân ổn định lâu dài, xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc, bền vững không vì mục đích nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần trong một thời điểm ngắn. Đảm bảo được yếu tố này thì sẽ đảm bảo cho hôn nhân có giá trị pháp lý và là cơ sở xây dựng hạnh phúc bền vững.
- Yếu tố thứ hai, phải được nhà nước thừa nhận: Đây là yếu tố đảm bảo sự tồn tại về mặt pháp lý của quan hệ hôn nhân, là cơ sở đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ hôn nhân. Tại Điều 64 Hiến pháp 1992 (sửa đổi 2001) qui định: “Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình”. Nhà nước chỉ bảo hộ quan hệ hôn nhân hợp pháp, đó là quan hệ hôn nhân tuân thủ các qui định pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam. Yếu tố nước ngoài trong quan hệ kết hôn Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài thuộc nhóm quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là một loại quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài đặc biệt.
Quan hệ kết hôn có yêú tố nước ngoài cũng được hình thành trên nguyên tắc tự do ý chí, tự nguyện của hai bên nam, nữ thống nhất đến với nhau, đăng ký kết hôn xác lập quan hệ hôn nhân bền vững, tạo nên tính đặc biệt của quan hệ. Theo Điều 758, Bộ luật dân sự năm 2005: “quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”. Như vậy, yếu tố nước ngoài được xác định căn cứ vào các tiêu chí sau: - Thứ nhất, căn cứ vào chủ thể: có ít nhất một trong các bên tham gia quan hệ dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài hoặc người 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Việt Nam định cư ở nước ngoài. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài (sau đây gọi tắt là người nước ngoài).
Theo khoản 2,3 Điều 3 Nghị định số 138/NĐ - CP ngày 15/11/2006 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ Luật dân sự năm 2005 về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài (gọi tắt là Nghị định số 138/NĐ - CP ngày 15/11/2006): Người nước ngòai là người không có quốc tịch Việt Nam bao gồm: người có quốc tịch nước ngoài, người không quốc tịch; người Việt Nam định cư ở nước ngoài là người có quốc tịch Việt Nam, người gốc Việt Nam đang làm ăn, cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài. - Thứ hai, căn cứ vào các sự kiện pháp lý để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ theo pháp luật nước ngoài hoặc phát sinh ở nước ngoài. - Thứ ba, căn cứ đối tượng của quan hệ đó là tài sản ở nước ngoài. Theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 2000 qui định tại khoản 14, Điều 8 và khoản 4 Điều 100 , quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình (gồm quan hệ kết hôn): - Giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài, căn cứ vào chủ thể; - Giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài, căn cứ vào sự kiện pháp lý và tài sản ở nước ngoài.
- Giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam, căn cứ vào nơi cư trú; - Giữa công dân Việt Nam với nhau mà một hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài (khoản 4, điều 100), căn cứ vào nơi cư trú. Việc xác định dấu hiệu yếu tố nước ngoài trong quan hệ hôn nhân và gia đình theo Luật hôn nhân và gia đình căn cứ vào chủ thể, sự kiện pháp lý, đối tượng của quan hệ là tài sản, và nơi cư trú của các bên đương sự. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Căn cứ yếu tố chủ thể: cũng giống như quy định của Bộ luật dân sự, các chủ thể tham gia quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài gồm: công dân Việt Nam; người nước ngoài (gồm người có quốc tịch nước ngoài, người không quốc tịch và nhiều quốc tịch); người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Căn cứ sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ hôn nhân và gia đình theo pháp luật nước ngoài, tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài.
Trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài có các loại sự kiện pháp lý: sự kiện làm phát sinh, sự kiện làm thay đổi, sự kiện chấm dứt quan hệ hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, sự kiện kết hôn chỉ là loại sự kiện làm phát sinh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài. Căn cứ nơi cư trú của các bên đương sự, đây là một căn cứ mới quy định trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 2000 để xác định yếu tố nước ngoài trong quan hệ kết hôn. Nơi cư trú của các bên đương sự trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài có hai trường hợp: Trường hợp thứ nhất, công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài theo quy định tại khoản 4 Điều 100 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam thì các quy định tại chương XI của Luật này cũng được áp dụng đối với quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau mà một hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài.
Với quy định này, pháp luật được áp dụng theo nguyên tắc luật quốc tịch của các bên đương sự. Việc áp dụng nguyên tắc này là hoàn toàn hợp lý, thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước ta không có sự phân biệt đối xử giữa công dân Việt Nam ở trong nước và ngoài nước, đồng thời thể hiện chính sách “mở cửa”, “hội nhập” với các nước trong khu vực và thế giới. Trường hợp thứ hai, người nước ngoài cư trú ở Việt Nam theo quy định tại khoản 14 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 2000 cũng là một căn cứ xác định yếu tố nước ngoài của quan hệ kết hôn. Pháp luật áp dụng để điều chỉnh quan hệ kết hôn giữa người nước ngoài thường trú tại Việt Nam là pháp luật Việt Nam, tức là áp dụng nguyên tắc luật nơi cư trú.
Việc áp dụng 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nguyên tắc này là hoàn toàn hợp lý vì người nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam, các cơ quan thẩm quyền Việt Nam áp dụng pháp luật Việt Nam sẽ giải quyết vụ việc nhanh chóng, thuận lợi do không phải áp dụng pháp luật nước ngoài. Từ những phân tích trên có thể rút ra khái niệm quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài là quan hệ kết hôn phát sinh giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài hoặc giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam hoặc giữa công dân Việt Nam với nhau cư trú tại nước ngoài mà căn cứ để xác lập quan hệ đó phát sinh ở nước ngoài. Khác với pháp luật Việt Nam, quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài trong pháp luật Trung Quốc có phạm vi điều chỉnh gồm: - Kết hôn giữa người Trung Quốc và người nước ngoài được đăng ký tại Trung Quốc; - Kết hôn giữa người Trung Quốc và người nước ngoài được đăng ký tại nước ngoài; - Kết hôn giữa người nước ngoài với nhau đăng ký tại Trung Quốc; - Kết hôn giữa người nước ngoài với nhau đăng ký tại nước ngoài.