Tổng quan nghiên cứu

Lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn là một trong những hệ thống sông liên tỉnh lớn nhất vùng Duyên hải Nam Trung Bộ với tổng diện tích tự nhiên đạt hơn 10.350 km2, bao phủ không gian phát triển kinh tế của thành phố Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam và một phần tỉnh Kon Tum. Theo số liệu quan trắc thủy văn giai đoạn 1980 - 2010, nguồn nước mặt của lưu vực có sự phân hóa mùa cực kỳ sâu sắc: dòng chảy mùa lũ chỉ kéo dài 3 đến 4 tháng nhưng chiếm tới 75% đến 80% tổng lượng dòng chảy cả năm, trong khi mùa kiệt kéo dài 8 đến 9 tháng chỉ đóng góp từ 20% đến 25% lượng nước. Sự bất đối xứng nghiêm trọng này, kết hợp với việc gia tăng xây dựng các bậc thang thủy điện và chuyển dòng liên lưu vực, đã làm bùng phát mâu thuẫn gay gắt giữa mục tiêu phát điện với nhu cầu cấp nước cho nông nghiệp, công nghiệp và sinh hoạt đô thị.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là tình trạng hạ thấp mực nước đáy kiệt và hiện tượng xâm nhập mặn nghiêm trọng tại hạ lưu, nơi nồng độ mặn tại cửa lấy nước Cầu Đỏ có thời điểm vượt ngưỡng 1.000 mg/l, gây gián đoạn cấp nước sạch cho hơn 1 triệu dân tại Đà Nẵng. Đề tài tập trung ứng dụng mô hình thủy động lực học MIKE 11 nhằm định lượng giá trị dòng chảy tối thiểu trên các phân lưu chính, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp công trình và phi công trình kiểm soát dòng chảy. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu là thiết lập căn cứ định lượng phục vụ công tác quy hoạch lưu vực sông theo Nghị định 112/2008/NĐ-CP, góp phần giảm thiểu 30% đến 40% nguy cơ thiếu nước cục bộ mùa cạn và duy trì sức khỏe sinh thái dòng sông dài hạn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết dòng chảy môi trường kết hợp với nguyên lý cân bằng nước lưu vực sông và lý thuyết thủy lực dòng hở một chiều. Dòng chảy tối thiểu được xác định là ngưỡng lưu lượng nhỏ nhất cần duy trì liên tục trên sông nhằm đảm bảo các chức năng cơ bản: duy trì sự sống của hệ sinh thái thủy sinh, bảo vệ khả năng tự làm sạch của nguồn nước, hạn chế xâm nhập mặn và đáp ứng các nhu cầu khai thác thiết yếu.

Mô hình nghiên cứu kế thừa các quy định quản lý tài nguyên nước mặt tại Nghị định 112/2008/NĐ-CP và các phương pháp thủy văn chuẩn mực như phương pháp Tennant, đường đặc tính chu vi ướt và phân tích tần suất dòng chảy kiệt nhỏ nhất. Bên cạnh đó, khung lý thuyết tích hợp hệ thống đánh giá chất lượng nước sinh học thông qua chỉ số BMWP và phân tích sinh khối thực vật phù du. Các khảo sát thực địa đã ghi nhận hơn 40 loài tảo cùng các loài cá chỉ thị tại hồ Đồng Nghệ và các phụ lưu chính, làm cơ sở khoa học để xác lập ngưỡng lưu lượng tối thiểu duy trì sinh cảnh.

Phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu đầu vào của đề tài bao gồm chuỗi số liệu đo đạc khí tượng thủy văn liên tục 30 năm (từ năm 1980 đến 2010) tại mạng lưới hơn 10 trạm quan trắc tiêu biểu như Nông Sơn, Thành Mỹ, Ái Nghĩa, Hội Khách, Giao Thủy, Cẩm Lệ và Câu Lâu. Nguồn dữ liệu địa hình mặt cắt sông gồm 78 mặt cắt ngang chi tiết cùng thông số kỹ thuật vận hành của 7 dự án thủy điện bậc thang trên dòng chính.

Phương pháp chọn mẫu áp dụng theo nguyên tắc phân tầng đại diện không gian và chuỗi thời gian thủy văn cực đoan, tập trung vào các năm kiệt điển hình ứng với tần suất thiết kế P = 75%, P = 85% và P = 95%. Nghiên cứu lựa chọn module thủy động lực học MIKE 11 HD do Viện Thủy lực Đan Mạch phát triển để tính toán phân tích. Lý do lựa chọn mô hình này xuất phát từ khả năng giải chính xác hệ phương trình vi phân Saint-Venant đối với mạng sông phân nhánh phức tạp, tính toán hiệu quả chế độ thủy lực không ổn định và phản ánh chi tiết sự tương tác động lực học giữa triều truyền ngược với dòng chảy kiệt từ thượng nguồn đổ về.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình hiệu chỉnh và kiểm định mô hình thủy lực MIKE 11 trên hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn mang lại độ tin cậy vượt trội. Hệ số nhám Manning toàn tuyến sau hiệu chỉnh dao động trong khoảng từ 0,025 đến 0,045. Chỉ số tương quan R giữa đường quá trình mực nước tính toán và thực đo tại các trạm kiểm định chính như Ái Nghĩa, Cẩm Lệ và Câu Lâu đều đạt trên 0,92; sai số đỉnh lũ và mực nước chân triều duy trì ở mức dưới 5% đến 8%.

Dòng chảy tối thiểu yêu cầu trên từng phân đoạn sông chính được định lượng rõ ràng: trạm Ái Nghĩa trên sông Vu Gia cần duy trì lưu lượng xả tối thiểu từ 38 m3/s đến 45 m3/s để đẩy mặn hiệu quả cho hạ du; trạm Nông Sơn trên sông Thu Bồn cần duy trì từ 52 m3/s đến 60 m3/s nhằm bảo tồn hệ sinh thái thủy sinh và cấp nước tưới tiêu.

Mô hình chỉ ra rằng trong kịch bản các hồ chứa thủy điện phía thượng nguồn tích nước cực đoan và xả dưới 30 m3/s trong các tháng 4 đến tháng 6, ranh mặn 1 g/l sẽ lấn sâu hơn 15 km vào nội đồng. Điều này làm độ mặn tại trạm bơm nước ngọt Cầu Đỏ tăng vọt từ 0,25 g/l lên trên 1,5 g/l, khiến sản lượng cấp nước sinh hoạt cho thành phố Đà Nẵng bị sụt giảm hơn 40%.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của tình trạng cạn kiệt dòng chảy hạ lưu bắt nguồn từ việc vận hành thủy điện đơn ngành và công trình chuyển nước liên lưu vực của dự án Đak Mi 4, làm sụt giảm tới 70% lượng nước tự nhiên đổ về sông Vu Gia trong mùa khô. Kết quả tính toán dòng chảy tối thiểu của luận văn tương đương khoảng 15% đến 20% lượng dòng chảy trung bình nhiều năm của lưu vực. Tỷ lệ này hoàn toàn tương thích với các kết quả nghiên cứu tương tự trên lưu vực sông Ba và sông Hương, đồng thời thỏa mãn mức khuyến nghị trung bình khá của phương pháp Tennant quốc tế.

Dữ liệu mô phỏng khi được thể hiện qua các biểu đồ tương quan mực nước thực tế và bảng cân bằng nước mùa cạn đã minh chứng trực quan bức tranh thiếu hụt dòng chảy. Đây là bằng chứng định lượng giúp các cơ quan quản lý thấy rõ sự cấp bách của việc tái phân bổ nguồn nước giữa các nhánh sông nhằm đảm bảo an ninh nguồn nước vùng hạ du.

Đề xuất và khuyến nghị

Kiểm soát và vận hành liên hồ chứa thời gian thực: Ban hành và giám sát quy trình điều tiết liên hồ chứa cho 5 nhà máy thủy điện lớn ở thượng nguồn (A Vương, Sông Tranh 2, Đak Mi 4, Sông Bung 4, Đak Mi 4A), bắt buộc duy trì lưu lượng xả về hạ du sông Vu Gia không thấp hơn 40 m3/s liên tục trong các tháng cao điểm khô hạn. Mục tiêu hoàn thiện quy chế giám sát tự động trước năm 2025 do Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì phối hợp với Tập đoàn Điện lực Việt Nam.

Đầu tư công trình ngăn mặn và phân lưu: Triển khai thi công đập dâng điều tiết An Trạch và nâng cấp hệ thống cống phân lũ Quảng Huế nhằm chủ động điều hòa 65% dòng chảy về phía sông Yên, hạ thấp độ mặn tại cửa lấy nước Cầu Đỏ xuống dưới 0,25 g/l trước quý IV năm 2024. Chủ thể thực hiện là Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam.

Lắp đặt mạng lưới quan trắc tự động: Xây dựng 6 trạm giám sát độ mặn và mực nước tự động truyền dữ liệu liên tục 24/7 tại các vị trí xung yếu gồm Hội Khách, Ái Nghĩa, Cẩm Lệ, Câu Lâu và Giao Thủy trong lộ trình 2024 - 2026, do Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn điều hành.

Hoàn thiện thể chế quản lý tổng hợp: Thành lập Ủy ban Quản lý Lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn với sự tham gia bình đẳng của các bên hưởng lợi, áp dụng cơ chế cấp phép xả dòng chảy môi trường có thu phí bồi hoàn sinh thái, giúp giảm thiểu 25% các xung đột lợi ích sử dụng nước trong giai đoạn 2025 - 2030.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Cơ quan quản lý tài nguyên và môi trường: Cán bộ thuộc Cục Quản lý Tài nguyên nước và các Sở Tài nguyên và Môi trường có thể ứng dụng kết quả nghiên cứu để thẩm định giấy phép khai thác, lập quy hoạch phân bổ nguồn nước liên tỉnh và giám sát tuân thủ Nghị định 112/2008/NĐ-CP.

Chủ đầu tư và đơn vị vận hành thủy điện, thủy lợi: Các kỹ sư vận hành nhà máy thủy điện trên lưu vực sử dụng các bộ thông số thủy lực của mô hình để lập kế hoạch xả nước định kỳ, vừa tối ưu hóa hiệu suất phát điện vừa tránh vi phạm cam kết duy trì dòng chảy môi trường.

Công ty cấp nước và doanh nghiệp khai thác thủy lợi: Ban lãnh đạo Công ty Cổ phần Cấp nước Đà Nẵng và các công ty khai thác công trình thủy lợi Quảng Nam áp dụng biểu đồ dự báo xâm nhập mặn để tối ưu hóa thời gian vận hành trạm bơm Cầu Đỏ và An Trạch, nâng cao hiệu quả trữ ngọt thêm 15% đến 20%.

Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Các nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản lý Môi trường, Kỹ thuật Tài nguyên nước và Thủy văn có thể tham khảo phương pháp luận thiết lập mạng sông MIKE 11, kỹ thuật hiệu chỉnh thông số và khung lý thuyết dòng chảy tối thiểu cho các công trình nghiên cứu tiếp theo.

Câu hỏi thường gặp

Mô hình MIKE 11 có độ chính xác như thế nào khi mô phỏng thủy lực lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn? Mô hình đạt độ chính xác rất cao với hệ số tương quan R vượt trên 0,92 và sai số biên độ mực nước chân triều dưới 8% tại các trạm kiểm định Cẩm Lệ và Câu Lâu. Kết quả chứng minh khả năng mô phỏng hoàn toàn tin cậy trên hệ thống sông phức tạp hơn 10.350 km2.

Lưu lượng dòng chảy tối thiểu tại trạm Ái Nghĩa cần đạt mức bao nhiêu m3/s để chống xâm nhập mặn? Nghiên cứu xác định lưu lượng xả tối thiểu tại trạm Ái Nghĩa phải đạt từ 38 m3/s đến 45 m3/s. Ngưỡng lưu lượng này đảm bảo duy trì độ sâu dòng chảy, đẩy mặn ra xa trạm bơm Cầu Đỏ và giữ độ mặn dưới mức tiêu chuẩn 0,25 g/l.

Căn cứ pháp lý nào quy định bắt buộc về việc xác định dòng chảy tối thiểu tại Việt Nam? Nghị định 112/2008/NĐ-CP là văn bản pháp lý nền tảng đầu tiên quy định trách nhiệm quản lý, bảo vệ và xác định dòng chảy tối thiểu sau các hồ chứa thủy điện, thủy lợi. Luận văn đã cụ thể hóa quy định này thành các con số định lượng cho từng đoạn sông.

Dự án thủy điện Đak Mi 4 ảnh hưởng như thế nào đến lưu lượng dòng chảy kiệt sông Vu Gia? Việc chuyển dòng sang sông Thu Bồn của dự án thủy điện Đak Mi 4 làm suy giảm tới 70% lượng dòng chảy tự nhiên mùa kiệt của sông Vu Gia. Tình trạng này khiến mực nước sông Yên và Cẩm Lệ hạ thấp kỷ lục, gây thiếu nước ngọt nghiêm trọng cho Đà Nẵng.

Giải pháp công trình nào được khuyến nghị ưu tiên triển khai để giải quyết thiếu nước mùa khô? Nâng cấp tuyến đập dâng An Trạch và lắp đặt trạm bơm phòng mặn khẩn cấp giúp tăng tỷ lệ phân lưu nguồn nước ngọt vào sông Yên thêm 25% đến 30%. Đây là giải pháp công trình then chốt bảo vệ an toàn nguồn cấp nước sinh hoạt cho đô thị.

Kết luận

Luận văn đã giải quyết toàn diện bài toán định lượng dòng chảy tối thiểu trên dòng chính lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn thông qua các kết quả cụ thể:

  • Ứng dụng thành công mô hình MIKE 11 HD mô phỏng chính xác chế độ thủy lực kiệt với sai số kiểm định dưới 8% và chỉ số tương quan R trên 0,92.
  • Xác định chính xác giá trị dòng chảy tối thiểu cần duy trì tại trạm Ái Nghĩa (38 m3/s đến 45 m3/s) và Nông Sơn (52 m3/s đến 60 m3/s).
  • Phân tích rõ nét nguyên nhân suy giảm 70% nguồn nước mùa cạn do tác động cộng hưởng của thủy điện thượng nguồn và việc chuyển dòng liên lưu vực.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp công trình và phi công trình đồng bộ, gắn liền với việc giám sát vận hành liên hồ chứa thời gian thực.
  • Tạo lập cơ sở khoa học tin cậy cho việc hoạch định chính sách an ninh nguồn nước và quản lý tổng hợp lưu vực sông giai đoạn 2025 - 2030.

Nghiên cứu mở ra hướng đi vững chắc cho công tác quản trị tài nguyên nước hiện đại. Các nhà quản lý, doanh nghiệp năng lượng và cộng đồng học thuật hãy tham khảo và ứng dụng ngay kết quả nghiên cứu này để xây dựng quy trình vận hành hồ chứa tối ưu, bảo vệ sức khỏe dòng sông và kiến tạo phát triển bền vững cho khu vực miền Trung.