Tổng quan nghiên cứu

Kể từ dấu mốc lịch sử gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào tháng 1 năm 2007, nền kinh tế Việt Nam đã chứng kiến sự chuyển biến sâu sắc về quy mô xuất nhập khẩu và mức độ mở cửa thị trường. Trong giai đoạn 2007 - 2011, Việt Nam trải qua áp lực nhập siêu nặng nề với mức thâm hụt thương mại năm 2007 lên tới 14,12 tỷ USD, tăng gấp gần 2,8 lần so với năm 2006, và lập đỉnh kỷ lục 18,03 tỷ USD vào năm 2008. Tuy nhiên, đến năm 2012, cán cân thương mại đã có bước ngoặt lịch sử khi lần đầu tiên ghi nhận mức xuất siêu khoảng 750 triệu USD, mở ra chu kỳ thặng dư thương mại liên tục trong những năm tiếp theo.

Vấn đề cốt lõi được đặt ra là liệu sự cải thiện này bắt nguồn từ chính sách tỷ giá hối đoái hay các động lực kinh tế vĩ mô khác. Nghiên cứu tập trung giải quyết mục tiêu lượng hóa tác động dài hạn và ngắn hạn của tỷ giá hối đoái thực đến cán cân thương mại song phương của Việt Nam với 5 đối tác thương mại trọng yếu gồm Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Đức trong giai đoạn 2007 - 2018. Đồng thời, đề tài kiểm định sự hiện diện của hiệu ứng đường cong chữ J trong bối cảnh nền kinh tế đang chuyển đổi cơ chế điều hành tỷ giá.

Ý nghĩa của công trình thể hiện ở việc cung cấp luận cứ thực nghiệm vững chắc, giúp các cơ quan quản lý đánh giá hiệu quả của cơ chế tỷ giá trung tâm áp dụng từ năm 2016, kiểm soát biên độ biến động tỷ giá hàng năm ở mức ổn định 1,2% đến 1,78%, từ đó tối ưu hóa cán cân vãng lai quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nền tảng lý thuyết của luận văn dựa trên cách tiếp cận hệ số co giãn của Alfered Marshall và Abba Lerner (1944). Theo điều kiện Marshall - Lerner, việc phá giá đồng nội tệ chỉ thực sự cải thiện cán cân thương mại khi tổng giá trị tuyệt đối của độ co giãn của cầu xuất khẩu và nhập khẩu theo giá lớn hơn 1 (|Ex| + |Em| > 1). Tiếp nối khung phân tích này, Stephen P. Magee (1973) cùng các mở rộng của Paul Krugman (1989) thiết lập lý thuyết về hiệu ứng đường cong chữ J, mô tả hiện tượng cán cân thương mại xấu đi trong ngắn hạn do hiệu ứng giá cả áp đảo, trước khi phục hồi và thặng dư trong dài hạn khi hiệu ứng khối lượng phát huy tác dụng sau khoảng thời gian 2 đến 3 năm.

Mô hình thực nghiệm kế thừa nghiên cứu của Chun-Hsuan Wang và cộng sự (2012), thiết lập mối quan hệ hàm số log-tuyến tính giữa cán cân thương mại song phương với thu nhập quốc nội của Việt Nam, thu nhập thực tế của đối tác nước ngoài và tỷ giá hối đoái thực song phương. Khung lý thuyết tích hợp các khái niệm then chốt gồm tỷ giá hối đoái thực đa phương (REER), hiệu ứng giá cả (Price Effect) và hiệu ứng khối lượng (Volume Effect).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp chuỗi thời gian theo quý trong giai đoạn 2007 - 2018, với tổng cộng 48 quan sát cho từng cặp quan hệ song phương, được trích xuất từ cơ sở dữ liệu của Tổng cục Thống kê (GSO), Tổng cục Hải quan và International Financial Statistics của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF). Phương pháp chọn mẫu tập trung vào 5 đối tác thương mại lớn nhất, chiếm hơn 60% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam trong suốt thập kỷ khảo sát.

Quy trình phân tích định lượng được thực hiện trên phần mềm Stata 12 thông qua 4 bước: kiểm định nghiệm đơn vị Augmented Dickey-Fuller (ADF) xác định bậc tích hợp của chuỗi dữ liệu, kiểm định lựa chọn độ trễ tối ưu dựa trên tiêu chuẩn AIC/SIC, kiểm định đồng liên kết Johansen và ước lượng Mô hình Hiệu chỉnh Sai số Vector (VECM) kết hợp hàm phản ứng đẩy (Impulse Response Function - IRF). Phương pháp VECM được lựa chọn vì tính ưu việt trong việc xử lý chuỗi dữ liệu tài chính không dừng ở sai phân bậc 1 I(1), cho phép phân tách rành mạch tác động cân bằng dài hạn và tốc độ điều chỉnh sai lệch trong ngắn hạn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, kiểm định đồng liên kết Johansen xác nhận sự tồn tại của mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa tỷ giá hối đoái thực và cán cân thương mại song phương của Việt Nam. Việc phá giá đồng Việt Nam (tăng tỷ giá VND) tạo ra tác động tích cực có ý nghĩa thống kê ở mức 5%, giúp cải thiện cán cân thương mại song phương với 4 trên 5 đối tác khảo sát gồm Hoa Kỳ, Đức, Nhật Bản và Hàn Quốc.

Thứ hai, đối với thị trường Trung Quốc, mô hình chỉ ra việc điều chỉnh tỷ giá chưa mang lại tác động cải thiện rõ nét cho cán cân thương mại Việt Nam trong dài hạn. Thực tế này phản ánh cơ cấu thương mại thâm hụt sâu sắc do Việt Nam phụ thuộc lớn vào nguồn máy móc, thiết bị và nguyên phụ liệu trung gian nhập khẩu từ thị trường này.

Thứ ba, trong ngắn hạn, hệ số hồi quy của biến tỷ giá có dấu không nhất quán và tác động mờ nhạt đến cán cân thương mại giữa các quý liên tiếp.

Thứ tư, phân tích hàm phản ứng đẩy (IRF) bác bỏ sự tồn tại của hiệu ứng đường cong chữ J tại cả 5 quốc gia. Cán cân thương mại Việt Nam không trải qua pha suy giảm lập tức sau cú sốc tỷ giá rồi mới phục hồi, mà duy trì quỹ đạo phản ứng tương đối phẳng trong 4 quý đầu tiên.

Thảo luận kết quả

Hiện tượng không xuất hiện đường cong chữ J tại Việt Nam được giải thích bởi đặc thù cơ cấu sản xuất công nghiệp gia công và phụ trợ. Tỷ trọng nguyên phụ liệu nhập khẩu phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu chiếm tới trên 60% tổng chi phí đầu vào, kết hợp với việc độ co giãn của cầu nhập khẩu theo giá ở mức rất thấp (khoảng 0,2). Khi nội tệ mất giá, giá hàng nhập khẩu tăng cao làm chi phí sản xuất đội lên ngay lập tức, triệt tiêu lợi thế cạnh tranh về giá của hàng hóa xuất khẩu.

Kết quả thực nghiệm này tương đồng với các phát hiện của Yuen-Ling và cộng sự (2008) tại Malaysia cũng như Edem Akorli (2017) tại Ghana, khẳng định tính đúng đắn của điều kiện Marshall - Lerner trong dài hạn nhưng phủ nhận đường cong J tại các nền kinh tế đang phát triển.

Về mặt biểu diễn dữ liệu, các phát hiện này được minh họa trực quan thông qua đồ thị quỹ đạo hàm phản ứng đẩy 10 kỳ quý, phản ánh sự biến thiên của cán cân thương mại trước cú sốc tỷ giá chuẩn hóa, cùng bảng ma trận hệ số hiệu chỉnh sai số (ECT) thể hiện tốc độ bù đắp sai lệch ngắn hạn về trạng thái cân bằng dài hạn đạt từ 15% đến 28% mỗi quý.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, Ngân hàng Nhà nước cần duy trì và hoàn thiện cơ chế điều hành tỷ giá trung tâm linh hoạt, neo giữ biên độ dao động trong khoảng ±3% quanh tỷ giá công bố hàng ngày. Mục tiêu kiểm soát mức biến động tỷ giá danh nghĩa trong phạm vi 1,5% đến 2,5%/năm, kết hợp công cụ bán ngoại tệ kỳ hạn có hủy ngang nhằm củng cố dự trữ ngoại hối quốc gia vượt ngưỡng 50 tỷ USD trong giai đoạn 2020 - 2023.

Thứ hai, Hội đồng Tư vấn Chính sách Tài chính - Tiền tệ Quốc gia cần thận trọng trước các quyết định chủ động phá giá mạnh đồng Việt Nam nhằm kích thích thương mại. Việc điều chỉnh tỷ giá danh nghĩa phải đặt trong mối tương quan với chỉ số lạm phát mục tiêu dưới 4%/năm, tránh gây ra cú sốc tăng giá chi phí đẩy cho các doanh nghiệp nhập khẩu vật tư máy móc phục vụ công nghiệp hóa.

Thứ ba, Bộ Công Thương chủ trì tái cấu trúc chuỗi cung ứng bằng cách đẩy mạnh đầu tư phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ nội địa. Phấn đấu nâng tỷ lệ nội địa hóa của ngành dệt may, da giày và linh kiện điện tử từ mức 30% - 35% lên ngưỡng 45% - 50% vào năm 2025, qua đó giảm tỷ trọng nhập siêu nguyên phụ liệu từ các đối tác lớn như Trung Quốc và Hàn Quốc.

Thứ tư, Bộ Tài chính phối hợp Ngân hàng Nhà nước đẩy mạnh chiến lược đa dạng hóa đồng tiền thanh toán quốc tế dựa trên rổ 8 ngoại tệ chủ chốt. Triển khai lộ trình giảm tỷ trọng thanh toán độc tôn bằng đồng Đô la Mỹ xuống dưới 70% trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giai đoạn 2020 - 2025, giúp giảm thiểu rủi ro biến động tỷ giá chéo trên thị trường tài chính toàn cầu.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cơ quan quản lý tiền tệ và hoạch định chính sách vĩ mô tại Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính. Luận văn cung cấp khung tham chiếu định lượng và các tham số hồi quy thực nghiệm về độ co giãn tỷ giá song phương, hỗ trợ việc thiết lập biên độ can thiệp tỷ giá trung tâm và điều tiết thanh khoản thị trường ngoại hối liên ngân hàng.

Nhóm 2: Lãnh đạo và chuyên viên tài chính tại các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu. Nghiên cứu mang lại cơ sở dữ liệu thực tiễn để xây dựng chiến lược quản trị rủi ro tỷ giá, lựa chọn công cụ tài chính phái sinh phòng ngừa rủi ro (Forward, Swap) và định giá sản phẩm xuất khẩu cạnh tranh theo từng thị trường đối tác.

Nhóm 3: Chuyên gia phân tích kinh tế vĩ mô và chiến lược đầu tư tại các ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán và quỹ đầu tư tài chính. Đề tài hỗ trợ việc xây dựng mô hình dự báo cán cân thanh toán tổng thể, thặng dư thương mại và dự trữ ngoại hối quốc gia.

Nhóm 4: Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Kinh tế quốc tế, Tài chính - Ngân hàng. Công trình là tài liệu học thuật mẫu mực về quy trình ứng dụng mô hình VECM, kiểm định đồng liên kết Johansen và phân tích chuỗi thời gian kinh tế lượng ứng dụng.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao việc phá giá đồng Việt Nam không tạo ra hiệu ứng đường cong chữ J?

Mô hình VECM giai đoạn 2007 - 2018 cho thấy hàng xuất khẩu của Việt Nam thâm dụng tới hơn 60% nguyên phụ liệu nhập khẩu. Khi VND giảm giá, chi phí nhập khẩu nguyên liệu tăng ngay lập tức, triệt tiêu lợi thế hạ giá thành xuất khẩu, khiến hiệu ứng giá cả và khối lượng diễn ra gần như song hành mà không tạo ra pha sụt giảm chữ J ban đầu.

Tỷ giá hối đoái thực (REX) khác biệt như thế nào so với tỷ giá danh nghĩa trong tác động ngoại thương?

Tỷ giá danh nghĩa chỉ phản ánh tỷ lệ trao đổi đơn thuần giữa hai đồng tiền. Tỷ giá thực REX đã triệt tiêu mức chênh lệch lạm phát giữa Việt Nam và nước đối tác. Giai đoạn 2007 - 2011, dù tỷ giá danh nghĩa tăng 10,01%, lạm phát nội địa quá cao đã khiến tỷ giá thực giảm, làm suy giảm sức cạnh tranh của hàng hóa trong nước.

Biến động tỷ giá tác động tích cực nhất tới cán cân thương mại với quốc gia nào?

Dữ liệu thực nghiệm chứng minh việc giảm giá VND cải thiện thặng dư thương mại rõ rệt nhất với Hoa Kỳ và Đức. Đây là hai thị trường có độ co giãn cầu xuất khẩu lớn đối với các mặt hàng tiêu dùng chủ lực của Việt Nam như dệt may, giày dép, đồ gỗ và thiết bị điện tử.

Cơ chế tỷ giá trung tâm áp dụng từ năm 2016 mang lại lợi ích gì cho thương mại?

Cơ chế tỷ giá trung tâm biến động hàng ngày theo rổ 8 đồng tiền giúp thị trường ngoại hối phản ánh sát cung cầu thực tế, giảm thiểu triệt để tâm lý đầu cơ ngoại tệ. Biên độ biến động tỷ giá được kiểm soát ổn định dưới 1,78%/năm, giúp doanh nghiệp chủ động xây dựng phương án kinh doanh xuất nhập khẩu dài hạn.

Doanh nghiệp gia công xuất khẩu chịu ảnh hưởng gì khi tỷ giá VND/USD tăng?

Khi tỷ giá tăng 1%, doanh nghiệp xuất khẩu gia công hưởng lợi về doanh thu quy đổi nhưng phải gánh chịu chi phí nhập khẩu linh kiện, máy móc tăng tương ứng. Vì tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa chỉ đạt 20% đến 30%, lợi nhuận ròng thực nhận không tăng đột biến nếu doanh nghiệp không tự chủ được nguồn nguyên liệu trong nước.

Kết luận

  • Xác lập bằng chứng thực nghiệm vững chắc về mối quan hệ đồng liên kết dài hạn giữa tỷ giá hối đoái thực và cán cân thương mại của Việt Nam với 5 đối tác lớn giai đoạn 2007 - 2018.
  • Bác bỏ sự tồn tại của hiệu ứng đường cong chữ J tại Việt Nam, khẳng định đặc thù của nền kinh tế thâm dụng nguyên phụ liệu nhập khẩu phục vụ xuất khẩu.
  • Chứng minh tính ưu việt và hiệu quả vượt trội của cơ chế điều hành tỷ giá trung tâm linh hoạt được Ngân hàng Nhà nước áp dụng từ đầu năm 2016.
  • Đề xuất lộ trình cấp thiết phát triển công nghiệp hỗ trợ nhằm nâng tỷ lệ nội địa hóa lên trên 45% vào năm 2025, giảm phụ thuộc nhập siêu từ Trung Quốc.
  • Khẳng định yêu cầu phối hợp đồng bộ giữa chính sách tỷ giá, chính sách tiền tệ kiểm soát lạm phát và chiến lược xúc tiến thương mại quốc tế giai đoạn 2020 - 2025.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là việc hệ thống hóa và lượng hóa thành công tác động của tỷ giá song phương bằng mô hình VECM, tạo tiền đề khoa học cho việc điều hành thị trường ngoại hối. Các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý được khuyến khích tiếp tục mở rộng mô hình này cho từng nhóm ngành hàng xuất khẩu cụ thể nhằm hoàn thiện hơn nữa chính sách kinh tế đối ngoại của Việt Nam.