CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU BẰNG ĐƯỜNG BIỂN. Khái niệm, nguyên tắc và sự cần thiết của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu: 1. Khái niệm về bảo hiểm, bảo hiểm hàng hoá: * Khái niệm bảo hiểm: Bảo hiểm (Insurance) là một sự cam kết của người bảo hiểm (Insurer) bồi thường cho người được bảo hiểm (Assured) về những thiệt hại, mất mát, hư hỏng của đối tượng bảo hiểm do những rủi ro đã được thỏa thuận gây ra, với điều kiện người được bảo hiểm đã mua bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm đó và nộp một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm. (giáo trình kỹ thuật thương mại quốc tế- ĐH Thương Mại) Trong đó: phí bảo hiểm là một khoản tiền nhỏ mà người được bảo hiểm phải nộp cho người bảo hiểm.
* Khái niệm bảo hiểm hàng hóa XNK: Bảo hiểm hàng hóa XNK là một sự cam kết của người bảo hiểm bồi thường cho người được bảo hiểm về những thiệt hại, mất mát, hư hỏng của hàng hóa được mua hay bán ra nước ngoài do những rủi ro đã được thỏa thuận gây ra, với điều kiện người được bảo hiểm đã mua bảo hiểm cho hàng hóa xuất hay nhập khẩu đó và nộp một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm cho hàng hóa XNK. * Khái niệm bảo hiểm hàng hoá XNK vận chuyển bằng đường biển: Bảo hiểm hàng hóa XNK vận chuyển bằng đường biển là một sự cam kết của người bảo hiểm bồi thường cho người được bảo hiểm ( người được bảo hiểm có thể là chủ hàng cũng có thể là nhà vận tải) về những thiệt hại, mất mát, hư hỏng của hàng hóa XNK được chuyên chở bằng đường biển có thể 12 gặp phải những rủi ro đã được thỏa thuận, với điều kiện người được bảo hiểm đã mua bảo hiểm cho hàng hóa xuất nhập khẩu khi mua- bán hàng ( nếu là chủ hàng), hay khi chuyên chỏ hàng ( nếu là nhà vận tải) đó và nộp một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm cho hàng hóa XNK ( phí này do chủ hàng hay nhà vận tải thanh toán- phụ thuộc vào thỏa thuận của chủ hàng và nhà vận tải). Những nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm hàng hoá: Hoạt động bảo hiểm nói chung và bảo hiểm hàng hóa XNK chuyên chở bằng đường biển nói riêng được tiến hành dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau: + Bảo hiểm một rủi ro chứ không bảo hiểm một sự chắc chắn xảy ra rủi ro ( Fortuity not Certainly). Người bảo hiểm chỉ bảo hiểm một rủi ro tức là bảo hiểm một sự cố, một tai nạn, tai họa bất ngờ chứ không bảo hiểm một cái chắc chắn sẽ xảy ra hoặc đương nhiên xảy ra.
Người bảo hiểm cũng chỉ bồi thường những thiệt hại, mất mát do rủi ro gây ra chứ không phải những thiệt hại chắc chắn xảy ra. + Nguyên tắc trung thực tuyệt đối( Utmost Goodfaith): Đây là nguyên tắc đòi hỏi cả người bảo hiểm và người được bảo hiểm phải tuyệt đối trung thực, thành thật và tin tưởng nhau, không được lừa dối nhau. Nếu một bên nào đó vi phạm thì coi như hợp đồng không còn hiệu lực. Cụ thể theo nguyên tắc này nó đòi hỏi: * Người bảo hiểm phải công khai tuyên bố những điều kiện, nguyên tắc thể lệ, giá cả bảo hiểm cho người được bảo hiểm biết, không được nhận bảo hiểm khi biết đối tượng bảo hiểm đã đến nơi an toàn.
* Người được bảo hiểm phải khai báo chính xác các chi tiết liên quan đến đối tượng được bảo hiểm, phải thông báo kịp thời những thay đổi về đối tượng bảo hiểm, về rủi ro về những nguy cơ làm tăng thêm rủi ro… mà mình 13 biết. Khi ký hợp đồng bảo hiểm, nếu hàng hóa đã đến nơi an toàn rồi mà người bảo hiểm đã biết thì hợp đồng bảo hiểm không có hiệu lực và phải hoàn lại phí bảo hiểm. * Không được mua bảo hiểm cho những đối tượng khi đã biết đối tượng đú đó bị tổn thất. Nguyên tắc lợi ích bảo hiểm (insurable Interest): Theo nguyên tắc này thì chỉ người có lợi ích bảo hiểm mới có quyền mua bảo hiểm.
Tức là chỉ những người mà quyền lợi của họ được bảo đảm nếu đối tượng bảo hiểm đó an toàn và ngược lại quyền lợi đó sẽ bị phương hại nếu đối tượng bảo hiểm bị gặp rủi ro. Nói một cách khác, người có lợi ích bảo hiểm là người bị thiệt hại về tài chính khi đối tượng bảo hiểm gặp rủi ro. Có thể đó là người chủ sở hữu của hàng hóa bảo hiểm hàng hải lợi ích bảo hiểm không nhất thiết phải có khi ký hợp đồng bảo hiểm nhưng nhất thiết phải có khi xảy ra tổn thất. + Nguyên tắc bồi thường ( Indemnity): Đây là nguyên tắc mà khi có tổn thất xảy ra thì người bảo hiểm phải bồi thường như thế nào đú đờ người được bảo hiểm có được vị trí tài chính như ban đầu ( trước khi có tổn thất xảy ra), không hơn, không kém.
Yêu cầu cỏc bờn không được trục lợi. + Nguyên tắc thế quyền ( Subrogation) Với nguyên tắc thế quyền, người bảo hiểm sau khi bồi thường cho người được bảo hiểm thì có quyền được đòi người thứ ba bồi thường cho mình, nếu lỗi dẫn đến tổn thất cho hàng hóa (đối tượng bảo hiểm) là do người này gây ra. Để thực hiện nguyờn tắc này thì người được bảo hiểm phải có trách nhiệm cung cấp các giấy tờ, chứng từ liên quan, cần thiết cho người bảo hiểm. Sự cần thiết của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển - Trong điều kiện nền kinh tế hoạt động mạnh mẽ như hiện nay, hàng hóa và dịch vụ đua nhau tăng về số lượng và chất lượng.
Vận chuyển hàng hóa bằng đường biển qua các quốc gia ngày càng nhiều lên đã góp phần không nhỏ vào tăng GDP của các nước. Tuy nhiên mọi người đều thừa nhận những rủi ro trên biển là những rủi ro khó nắm bắt hoặc khó tránh và hậu quả thường rất lớn như: thiên tai, địch họa, cướp bóc, đình công, trục trặc kỹ thuật. Trong một quá trình như vậy, để kịp thời khắc phục những rủi ro, tổn thất, ổn định hoạt động kinh doanh cho mét doanh nghiệp, ổn định cuộc sống cho chủ doanh nghiệp và những người lao động trong doanh nghiệp đồng thời ổn định lợi Ých cho một quốc gia thì phải sử dụng một biện pháp hữu hiệu để giải quyết các thiệt hại bằng bù đắp kinh tế, đó là thông qua bảo hiểm - hình thức phân tán rủi ro theo nguyên lý cộng đồng. - Do khối lượng hàng hóa XNK bằng đường biển tăng lên đã làm cho doanh thu của ngành bảo hiểm cũng tăng lên không nhỏ.Ngoài việc giảm thiểu rủi ro tổn thất, bảo hiểm HHXNK cũng góp phần làm tăng thu nhập quốc dân, cung cấp thêm vốn cho thị trường tài chính.
- Bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu đã ra đời từ rất sớm, được thừa nhận, được ủng hộ và phát triển không ngừng. Đến nay, bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển đã có bề dày lâu năm và mặc nhiên trở thành tập quán thương mại quốc tế không thể thiếu trong hoạt động ngoại thương. Rủi ro, tổn thất và các điều kiện bảo hiểm 1. Rủi ro trong bảo hiểm hàng hóa: 15 * Khái niệm rủi ro: Rủi ro (Risk) là những tai nạn, những tai họa, những sự cố xảy ra bất ngờ, ngẫu nhiên hoặc những mối đe dọa nguy hiểm mà khi xảy ra thì có thể gây ra tổn thất cho đối tượng bảo hiểm ( hàng hóa, phương tiện).
Sự tồn tại của rủi ro là cơ sở cho hoạt động bảo hiểm, song không phải rủi ro nào cũng được bảo hiểm. Trong thực tế có rất nhiều loại rủi ro. Tùy thuộc vào những tiêu thức khác nhau mà người ta chia rủi ro trong bảo hiểm hàng hóa thành những loại khác nhau. Trong giới hạn đề tài này, tôi xin trình bày về rủi ro hàng hải: * Rủi ro hàng hải: Rủi ro hàng hải là những rủi ro do thiên tai, tai nạn bất ngờ trên biển gây ra làm hư hỏng hàng hóa và phương tiện chuyên chở.
Rủi ro hàng hải có nhiều loại: Theo nguyên nhân: rủi ro hàng hải bao gồm rủi ro do thiên tai, rủi ro do tai nạn bất ngờ trên biển và rủi ro do hành động của con người. - Thiên tai: là những hiện tượng do thiên nhiên gây ra như biển động, bão, lốc, sét, thời tiết quá xấu mà con người không chống lại được. - Tai nạn bất ngờ trên biển: mắc cạn, đắm, bị phá hủy, cháy nổ, mất tích, đâm va với tàu thuyền hoặc một vật thể cố định hay di động khác không phải là nước, phá hoại của thuyền trưởng và các thủy thủ trên tàu. - Hành động của con người: ăn trộm, ăn cắp hàng, mất cướp, chiến tranh, đình công, bắt giữ, tịch thu.
Đó là các rủi ro chính, ngoài ra cũn cỏc rủi ro phụ như rủi ro lúc xếp dỡ hàng, hàng bị nhiễm mựi, lây bẩn. 16 Theo nghiệp vụ bảo hiểm: có 3 loại rủi ro là rủi ro thông thường được bảo hiểm, rủi ro không được bảo hiểm và rủi ro được bảo hiểm trong điều kiện đặc biệt. - Rủi ro thông thường được bảo hiểm: bão, lốc, sóng thần, mắc cạn, đâm va. - Rủi ro không được bảo hiểm ( còn gọi là rủi ro loại trừ): Là các rủi ro không được nhận bảo hiểm trong bất kỳ một đơn bảo hiểm nào, bao gồm các sai sót của bản thân người được bảo hiểm, bao bì không đúng quy cách, vi phạm thể lệ xuất nhập khẩu hoặc vận chuyển, chậm trễ hoặc mất giá trị hàng trên thị trường.
- Rủi ro được bảo hiểm trong trường hợp đặc biệt: rủi ro do chiến tranh, đình công, bạo loạn ( gọi chung là rủi ro chiến tranh), thường không được nhận bảo hiểm, nhưng nếu chủ hàng có yêu cầu, sẽ được nhận bảo hiểm kèm theo rủi ro thông thường được bảo hiểm với điều kiện trả thêm phụ phí đặc biệt chứ không nhận bảo hiểm riêng cho rủi ro chiến tranh. Các rủi ro được bảo hiểm phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra tổn thất. Việc phân biệt nguyên nhân trực tiếp hay nguyên nhân gián tiếp có vai trò rất quan trọng để xác định gây ra tổn thất có phải là rủi ro được bảo hiểm hay không. Những tổn thất nào có nguyên nhân trực tiếp là rủi ro được bảo hiểm gây ra mới được bồi thường.
Tổn thất trong bảo hiểm hàng hoá: Tổn thất bảo hiểm HHXNK là những thiệt hại, hư hỏng của hàng hóa được bảo hiểm do rủi ro gây ra.