§Ò ¸n m«n häc Bµnh ThÞ ThanhT×nh lêi nãi ®Çu Vốn và kỹ thuật là những nhân tố quan trọng đối với bất kỳ quốc gia nào trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Nó đặc biệt quan trọng đối với các nước đang phát triển bởi vì đó là nguồn lực khan hiếm đối với các nước này. và đối với Việt Nam cũng vậy, víi xuất phát điểm là một nước nông nghiệp lạc hậu phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện thiếu vốn trầm trọng, tích luü nội bộ thấp,khoa học công nghệ lạc hậu, kinh nghiệm quản lý yếu kém, với nguồn lực khan hiếm như vậy chúng ta không thể một mình đi lên được mà cần phải có một “cú huých” từ bên ngoài – đó là nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài vào, trong đó nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là một bộ phận quan trọng. Năm 1987 Việt Nam ban hành luật đầu tư trực tiếp nước ngoài, nó đã thổi một luồng sinh khí mới vào Việt Nam.
Sau hơn 14 năm thực hiện luật đầu tư trực tiếp nước ngoài chúng ta đã thấy được vai trò to lớn của nó và nó được coi là nhân tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Cùng với xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế hiện nay, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trở thành một hình đầu tư phổ biến trên thế giới. Trong khi nhu cầu về FDI của các quốc gia ngày càng gia tăng thì nguồn FDI trên thế giới lại có hạn, dẫn đến tình trạng cạnh tranh gay gắt giữa các nước tiếp nhận FDI. Hơn nữa, dòng FDI hiện nay có xu hướng chảy vào các nước phát triển hơn là các nước đang phát triển, Trung Quốc là nước tiến hành cải thiện môi trường nhanh, đây là một trở ngại đối với Việt Nam.
Làm thế nào để thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn FDI đang là vấn đề nóng bỏng và gây nhiều tranh cãi. Cũng chính vì tính cấp thiết đó mà em quyết định chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam” làm đề tài cho đề án môn học của mình. 1 §Ò ¸n m«n häc Bµnh ThÞ ThanhT×nh Em xin chân thành cảm ơn TS Đoàn Thị Thu Hà đã giúp em hoàn thành bài viết này. Do trình độ và thời gian có hạn, nên chắc rằng bài viết không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót, mong được sự góp ý của thầy cô và các bạn.
Sv: Bành Thị Thanh Tình 2 §Ò ¸n m«n häc Bµnh ThÞ ThanhT×nh PHẦN I LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NGOÀI (FOREIGN DIRECT INVESTMENT – FDI) 1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một hình thức đầu tư quốc tế được thực hiện thông qua việc thành làp các công ty con để mở rộng phạm vi hoạt động kinh doanh của các công ty quốc tế ra toàn cầu. Việc mở rộng sản xuất thông qua các hình thức FDI không chỉ đơn thuần là sự chu chuyển tài chính quốc tế, mà cùng với nó là sự chuyển giao công nghệ, bí quyết quản lý và các tài sản vô hình khác. Đầu tư trực tiếp nước ngoài lµ h×nh thøc ®Çu t trong ®ã ngêi bá vèn ®ång thêi lµ ngêi sö dông vèn, ®iÒu ®ã cã nghÜa lµnhµ ®Çu t ®ång thêi lµ ngêi qu¶n lý ho¹t ®éng ®Çu t.
Trong đầu tự trực tiếp, người có vốn bỏ vào một đối tượng nhất định nhằm tăng thêm năng lực sản xuất hiện có, hoặc tạo ra những năng lực mới, song cũng có thể mua lại một số cổ phần đủ lớn để trực tiếp tham gia quản lý, điều hành đối tượng bỏ vốn để thu được lợi tức cổ phần. Đứng trên những giác độ khác nhau, đã có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài: Theo quỹ tiền tệ; FDI phản ánh số đầu tư được thực hiệnđể thu lợi ích lâu dài trong một hãng hoạt động ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư, mục đích của nhà đầu tư là dành được tiếng nói có hiệu quả trong công việc quản lý hãng đó. Theo Cynthia Day Wallace – chuyên gia Mỹ về các công ty xuyên quốc gia FDI có thể được định nghĩa theo nghĩa rộng là việc thiết lập hay dành được quyền sở hữu đáng kể trong một hãng ở nước ngoài hay sự gia 3 §Ò ¸n m«n häc Bµnh ThÞ ThanhT×nh tăng khối lượng của một khoản đầu tư hiện có ở nước ngoài nhằm đạt được quyền sở hữu đáng kể… Theo luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam ban hành ngày 12/11/1996 tại điều 2 chương II có ghi: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc là bằng bất cứ tài sản nào để tiến hành các hợp đồng đầu tư theo quy định của luật này”. Từ các quan điểm, các chính kiến khác nhau ta có thể rut ra các điểm hội tụ chung về khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) như sau: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hoạt động đầu tư do các tổ chức kinh tế và các cá nhân nước ngoài tự mình hoặc cùng với các tổ chức kinh tế của nước sở tại bỏ vốn vào một đối tượng nhất định, trực tiếp quản lý và điều hành để thu lợi trong kinh doanh.
Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài được tiến hành thông qua các dự án - gọi là dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài. Một số hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam: Hoạt động hợp tác kinh doanh(Business Cooperation Contract – BCC), doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, hình thức xây dựng – kinh doanh - chuyển giao(Built-Operate-Transfer – BOT), hình thức xây dựng - chuyển giao – kinh doanh(BTO), hợp đồng xây dựng và chuyển giao(Built- Transfer – BT),…hoặc có thể đầu tư vào các khu chế xuất, khu công nghiệp hay khu công nghệ cao… 2. Xu hướng vận động của đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay. Đầu tư trực tiếp nước ngoài đang ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với các nền kinh tế, cả với nước tiếp nhận đầu.
Cũng như sự phát triển của nền kinh tế thế giới, sự vận động của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chịu tác động của rất nhiều yếu tố khác nhau như kinh tế, kỹ thuật, chính trị, xã hội và các nhân tố tự nhiên. Cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ 4 §Ò ¸n m«n häc Bµnh ThÞ ThanhT×nh khu vực châu á cùng với xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới đã khiến hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài có nhiều biến đổi sâu sắc. Trong những năm gần đây, FDI ngày càng được mở rộng và tăng lên về cả quy mô, hình thức, thị trường, lĩnh vực đầu tư, đồng thời thể hiện vị trí, vai trò ngày càng to lớn trong quan hệ kinh tế quốc tế. Sự vận động của FDI đang thay đổi đáng kể theo những xu hướng sau: Thứ nhất, quy mô FDI không ngừng tăng lên cả về số lượng tuyệt đối và tỷ trọng trong tổng vốn đầu tư toàn thế giới: Càng về cuối thập kỷ 90 tốc độ lưu chuyển FDI càng tăng lên nhanh, lên tới trên 20% mỗi năm phải mất 12 năm, từ năm 1974 đến 1986 để tăng gấp đôi, nhưng chỉ 6 năm sau đến năm 1992 FDI đã tăng lên 2 lần, đạt mức 168 tỷ USD, và chỉ cần 3 năm tiếp nữa (1995), FDI đã gấp đôi(325 tỷ USD).
Năm 1998, theo báo của tổ chức hội nghị về buôn bán và phát triển của Liên hợp quốc(UNCTAD), tổng FDI của thế giới là 636 tỷ USD tăng 40% so với năm 1997 và gấp 2 lần năm 1995. Năm 1999, khói lượng FDI lưu chuyển trên toàn thế giới đạt 865 tỷ USD, tăng 36% so với năm 1998, gấp 10 lần so với 10 năm trước đó; Năm 2000 vừa qua FDI đạt đến mức kỷ lục 1000 tỷ USD tăng 16% so với năm 1999. Theo dự báo 5 năm đầu của thế kỷ XXI dòng FDI tiếp tục tăng vượt quá tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới và tốc độ tăng trưởng thương mại quốc tế. Cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ của một số nước khu vực châu Á, cuộc khủng hoảng kinh tế-tài chính ở Liên Bang Nga dường như chỉ làm thay đồi địa chỉ đến của FDI chứ không ảnh nhiều đến khối lượng và tốc độ luân chuyển của FDI trên toàn thế giới.
Cơ sở của sự gia tăng này là quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, môi trường chính trị-xã hội thuận lợi và tốc độ tăng trưởng kinh tế đều đặn của nhiều quốc gia, khu vực trên toàn thế giới những năm gần đây. Sự tiến bộ khoa học-kỹ thuật, nhất là hệ thống thông tin liên lạc, giao thông cũng tạo điều kiện thuận lợi, trợ giúp các hoạt động FDI diễn ra thuận lợi, nhanh chóng. 5 §Ò ¸n m«n häc Bµnh ThÞ ThanhT×nh Thứ hai, dòng FDI đang chịu sự chi phối và kiểm soát chủ yếu bởi các công ty xuyên quốc gia(TNCs) của các nước phát triển. Các công ty xuyên quốc gia trở thành những chủ đầu tư kiểm soát trên 80% tổng FDI trên toàn thế giới hiện nay.
Trên toàn thế giới có khoảng 60000 công ty xuyên quốc gia, trong đó 49000 công ty là thuộc các nước công nghiệp phát triển và 11000 công ty là thuộc các nước đang phát triển. Các công ty xuyên quốc gia có mạng lưới chân rết hoạt động rộng khắp thế giới với khoảng 500000 công ty con (chi nhánh) ở nước ngoài. Chỉ 100 công ty xuyên quốc gia lớn nhất thế giới (tất cả đều thuộc Mỹ, EU và Nhật Bản) đã chiếm tới 1/3 FDI toàn cầu, 90% kết quả nghiên cứu và triển khai kỹ thuật là thuộc các công ty xuyên quốc gia. Các công ty xuyên quốc gia cũng là nguồn cung cấp vốn đầu tử tực tiếp chủ yếuđối với các nước đang phát triển, xu hướng bành trướng của các công ty xuyên quốc gia trong đầu tư quốc tế nay đòi hỏi các quốc gia chú trọng trong việc thu hút FDI từ các TNCs.
FDI ngày có mối quan hệ chặt chẽ với chiến lược toàn cầu của các công ty xuyên quốc gia. Trong những năm gần đây, các hìh thức đầu chủ yếu của các các công ty xuyên quốc gia là hợp nhất hoặc mua lại các chi nhánh công ty ở nước ngoài. Thứ ba, tính cạnh tranh giữa các nước đầu tư và các nước tiếp nhận đầu tư ngày càng cao.