Chương 1: Cơ sở lý thuyết về hoạt động Chuỗi cung ứng. Chương 2: Thực trạng hoạt động Chuỗi cung ứng tại Công ty TNHH Platz Việt Nam. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện hoạt động Chuỗi cung ứng tại Công ty TNHH Platz Việt Nam. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HOẠT ĐỘNG CHUỖI CUNG ỨNG Tổng quan về chuỗi cung ứng 1.1 Khái niệm chuỗi cung ứng Chuỗi cung ứng hay Supply chain là một hệ thống các tổ chức, con người, hoạt động, thông tin và các nguồn lực liên quan tới việc di chuyển sản phẩm hay dịch vụ từ nhà cung cấp hay nhà sản xuất đến người tiêu dùng (Consumer).
Hoạt động chuỗi cung ứng liên quan đến biến chuyển các tài nguyên thiên nhiên, nguyên liệu và các thành phần thành một sản phẩm hoàn chỉnh để giao cho khách hàng cuối cùng (người tiêu dùng). Trong các hệ thống chuỗi cung ứng phức tạp, các sản phẩm được sử dụng có thể tái nhập vào chuỗi cung ứng tại bất kỳ điểm nào giá trị còn lại có thể tái chế được. (Nguồn: Wikipedia) Nhiều công trình nghiên cứu đã đưa ra những định nghĩa về chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng. Trong khuôn khổ luận văn, tác giả trích lược một số định nghĩa để bổ sung cơ sở lý thuyết cho nghiên cứu, bao gồm: “Một chuỗi cung ứng là sự sắp xếp, bố trí các công ty để mang sản phẩm và dịch vụ đến với thị trường” (Lambert, Douglas M.14) “Một chuỗi cung ứng là một mạng lưới của những điều kiện và những lựa chọn phân phối được thực hiện dưới dạng chức năng mua sắm nguyên liệu, biến đổi những nguyên liệu này thành những sản phẩm trung gian hay thành phẩm, và sự phân phối những sản phẩm hoàn thiện này đến với khách hàng” (Ganesham, Ran & Terry P.
Harrison (1995)) “Một chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các giai đoạn cấu thành, trực tiếp hoặc gián tiếp, trong việc đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm các nhà sản xuất và cung ứng, mà còn bao bồm các nhà vận tải, kho hàng, nhà bán lẻ và chính khách hàng.2 Khái niệm quản trị chuỗi cung ứng Thuật ngữ “Quản trị chuỗi cung ứng” (SCM Supply Chain Management) nổi lên vào cuối những năm 1980 và được sử dụng rộng rãi trong những năm 1990. Trước thời gian đó, hoạt động kinh doanh sử dụng các thuật ngữ như “Quản trị hậu cần” 5 (logicstics management) và “Quản lý hoạt động” để thay thế. Hội đồng các chuyên gia quản trị chuỗi cung ứng (The Council of Supply Chain Management Professionals - CSCMP) đã định nghĩa quản trị chuỗi cung ứng như sau: “Quản trị chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các hoạt động lên kế hoạch và quản trị liên quan đến nguồn cung ứng, thầu, chuyển đổi và các hoạt động quản lý hậu cần (logistics management).
Quan trọng không kém là nó cũng bao gồm sự phối hợp là liên kết với các kênh đối tác như là các bên cung cấp, bên trung gian, nhà cung cấp dịch vụ bên thứ ba, và khách hàng.” Về bản chất, quản trị chuỗi cung ứng tích hợp quản trị cung và cầu bên trong và bên ngoài các công ty. Quản trị chuỗi cung ứng là một chức năng tích hợp, với trách nhiệm chính là kết nối các chức năng kinh doanh chính và các quy trình kinh doanh trong các công ty thành một mô hình kinh doanh gắn kết và hiệu quả cao.3 Lợi ích và rủi ro khi sử dụng SCM 1.1 Lợi ích Mục tiêu chính của SCM là thỏa mãn các yêu cầu của khách hàng thông qua sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên, bao gồn khả năng phân phối, dự trữ, và lao động. Điều này giúp nâng cao dịch vụ khách hàng, giảm các chi phí không cần thiết cho doanh nghiệp, giảm chi phí giá thành mỗi sản phẩm. Một chuỗi cung ứng hướng đến mục tiêu đáp ứng để cho cung gặp cầu và để cho hàng tồn kho là tối thiểu, giảm chi phí lưu kho của doanh nghiệp.
Một chuỗi cung ứng tốt sẽ giúp doanh nghiệp đáp ứng nhanh với sự thay đổi của thị trường và giảm các yếu tố tác động tới thị trường.2 Rủi ro Nếu lựa chọn một hệ thống SCM sai có thể sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động kinh doanh của công ty, từ nguyên liệu sản xuất đến hệ thống phân phối. Hệ thống SCM không tương thích với các công cụ quản trị như hệ thống sổ sách, các phần mềm kinh doanh đang được sử dụng có thể dẫn đến việc phá hủy toàn bộ hoạt động kinh doanh. Các hình thức kinh doanh với đa chi nhánh, đối tác, văn phòng đại diện có thể dẫn tới sự xáo trộn, khó khăn trong phân tích dữ liệu và quản lý.4 Phân biệt chuỗi cung ứng với các dạng khác Phân biệt quản trị chuỗi cung ứng SCM và quản trị hậu cần Bảng 1.1 Phân biệt quản trị chuỗi cung ứng SCM và quản trị hậu cần Quản trị hậu cần Quản trị chuỗi cung ứng (Logistics) (Supply Chain Management) Chuỗi cung ứng là mạng lưới các Logistics là những hoạt công ty cùng làm việc và hợp tác Về quy mô động xảy ra trong ranh giới để phân phối sản phẩm đến thị một công ty vừa và nhỏ. Quản trị chuỗi cung ứng lại đặt Logistics mong muốn đạt mục tiêu giảm được chi phí toàn được là giảm chi phí, tăng Về mục tiêu thể dựa trên tăng cường khả năng được chất lượng dịch vụ và cộng tác và phối hợp, do đó tăng sự hài lòng của khách hàng.
ưu thế cạnh tranh. Quản trị Logistics quản lý Quản trị chuỗi cung ứng bao gồm các hoạt động bao gồm vận cả quản trị Logistics và quản trị Về công việc tải, kho bãi, dự báo, đơn nguồn cung cấp, sản xuất, hợp tác hàng, giao nhận, dịch vụ và phối hợp của các đối tác, khách khách hàng… hàng… Ảnh hưởng Ngắn / Trung hạn Dài hạn Số lượng Nhiều tổ chức tham gia để đạt mục doanh nghiệp Chỉ 1 tổ chức duy nhất tiêu chung tham gia (Nguồn: Tác giả tổng hợp) Phân biệt chuỗi cung ứng và kênh phân phối Kênh phân phối là quá trình từ nhà sản xuất đến khách hàng thông qua nhà phân phối. Nó chỉ là một bộ phận của chuỗi cung ứng – là một phần của chuỗi cung ứng từ nhà sản xuất đến khách hàng. 7 Phân biệt quản trị chuỗi cung ứng và quản trị nhu cầu Quản trị nhu cầu là quản lý nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ theo chuỗi cung ứng.
Nhu cầu có thể được quản lý thông qua cơ chế như là sản phẩm, giá cả, khuyến mại và phân phối, nhìn chung đây là những nhiệm vụ chủ yếu là thuộc về marketing. Quản trị nhu cầu thật sự là 1 bộ phận nhỏ của quản trị chuỗi cung ứng và nó thật cần thiết trong việc kiểm soát các mức nhu cầu của hệ thống. Chúng ta phải xem xét quản trị nhu cầu có vai trò quan trọng như quản trị nguồn nguyên vật liệu và dịch vụ trong quản trị chuỗi cung ứng. Cấu trúc chuỗi cung ứng 1.1 Những bên tham gia vào chuỗi cung ứng Hình 1.1 Chuỗi cung ứng cũ và mới (Nguồn: Michael H.
Hugos (2011)) 8 Trong thời đại công nghiệp, thị trường hàng hoá biến chuyển chậm, những công ty thường nắm hết chuỗi cung ứng của mình. Mô hình này được gọi là liên kết theo hàng dọc. Mục tiêu của liên kết theo hàng dọc là nhằm đạt được hiệu quả tối đa thông qua lợi ích kinh tế nhờ quy mô. Cùng với toàn cầu hoá, thị trường cạnh tranh cao và tốc độ thay đổi nhanh của công nghệ đã định hình sự phát triển của chuỗi cung ứng.
Để đạt được hiệu quả vận hành cao và bắt kịp những thay đổi liên tục của công nghệ, các công ty cần tập trung vào những năng lực cốt lõi của mình – hay nói cách khác là tập trung vào kinh doanh cái mà họ có thể làm tốt nhất và nơi họ có thể tạo ra lợi thế khác biệt (differential advantage). Thay vì thực hiện liên kết theo hàng dọc, bây giờ các công ty có thể thực hiện “liên kết ảo”, các công ty tìm kiếm những công ty khác mà họ có thể làm việc chung để thực hiện các hoạt động cần thiết trong chuỗi cung ứng của mình.1) Trong một số chuỗi cung ứng, chỉ có vài nhà cung cấp dịch vụ bởi những bên tham gia có thể tự thực hiện các dịch vụ cho chính mình. Trong những chuỗi cung ứng khác, các nhà cung cấp dịch vụ chuyên ngành đã phát triển và những bên tham gia khác sẽ thuê các nhà cung cấp này làm dịch vụ thay vì tự mình thực hiện dịch vụ. Những cấu trúc điển hình của chuỗi cung ứng được trình bày trong Hình 1.2 Những chuỗi cung ứng điển hình (Nguồn: Michael H.Hugos (2011)) 9 Những bên tham gia vào chuỗi cung ứng bao gồm: + Nhà sản xuất + Nhà cung cấp dịch vụ + Nhà phân phối + Nhà bán lẻ + Khách hàng 1.2 Các nhân tố chính của chuỗi cung ứng Dựa theo các nghiên cứu của Chopra & Meindl (2000) và Michael H.
Hugos (2011), có năm lĩnh vực trong đó công ty có thể đưa ra những quyết định có tác dụng định hình khả năng của chuỗi cung ứng mà họ quản lý: Sản xuất, Hàng tồn kho, Địa điểm, Vận tải, Thông tin (Hình 1. Để quản lý hiệu quả chuỗi cung ứng, cần hiểu biết về các nhân tố và cách thức vận hành của nó. Mỗi nhân tố đều có khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến chuỗi cung ứng.3 Các nhân tố chính của chuỗi cung ứng (Nguồn: Michael H. Hugos (2011)) 10 Sản xuất Sản xuất nói đến khả năng tạo ra và lưu trữ sản phẩm của chuỗi cung ứng.
Phương tiện sản xuất bao gồm nhà máy và nhà kho. Mô hình xây dựng nhà máy cũng như lưu kho cần giải quyết vấn đề thương mại giữa sự phản ứng nhanh (responsiveness) và tính hiệu quả (efficiency). Những nhà máy cần xây dựng sao cho phù hợp với 2 phương pháp sản xuất sau: ✓ Tập trung vào chức năng: chú trọng thực hiện một vài hoạt động như chỉ làm một nhóm sản phẩm, hoặc chỉ làm công đoạn lắp ráp. ✓ Tập trung vào sản phẩm: thực hiện những hoạt động cần thiết để tạo ra một dòng sản phẩm nào đó, từ việc chế tạo linh kiện đến lắp ráp linh kiện thành sản phẩm hoàn chỉnh.
Tương tự như vậy, kho hàng cũng được xây dựng theo ba phương pháp sau: ✓ Dự trữ lưu kho (SKU storage): tất cả các sản phẩm cùng loại lưu trữ cùng nhau. Đây là phương pháp lưu trữ truyền thống, dễ hiểu và hiệu quả. ✓ Dự trữ theo ngành nghề (Job lot storage): tất cả những sản phẩm liên quan đến đối tượng khách hàng nào đó, hoặc có liên quan đến nhu cầu của một loại công việc nào đó được dự trữ cùng nhau.