Luận văn: Thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng ở tỉnh An Giang

Tìm hiểu thực trạng chính sách ưu đãi người có công tại An Giang. Đánh giá hiệu quả, vướng mắc và giải pháp nâng cao hiệu quả chính sách.

Trường đại học

Học Viện Khoa Học Xã Hội

Chuyên ngành

Chính Sách Công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

73
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan chính sách ưu đãi người có công ở tỉnh An Giang

Chính sách ưu đãi người có công với cách mạng là một chủ trương lớn, thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam. Tại tỉnh An Giang, việc thực hiện chính sách này không chỉ là trách nhiệm mà còn là biểu hiện sâu sắc của công tác đền ơn đáp nghĩa. Luận văn của tác giả Nguyễn Văn Thạnh (2021) đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn, cung cấp một cái nhìn toàn diện về quá trình triển khai chính sách này. Dựa trên nền tảng của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng, tỉnh An Giang đã xây dựng một kế hoạch hành động cụ thể nhằm chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho các gia đình chính sách. Công tác này gắn liền với mục tiêu đảm bảo an sinh xã hội tỉnh An Giang, góp phần ổn định chính trị và củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Việc thực thi chính sách được xem là một phần quan trọng của chính sách hậu phương quân đội, ghi nhận sự hy sinh to lớn của các thương binh, bệnh binh, thân nhân liệt sĩ, và các Bà mẹ Việt Nam anh hùng.

1.1. Nền tảng pháp lý từ Pháp lệnh ưu đãi người có công

Nền tảng pháp lý cho việc thực hiện chính sách ưu đãi người có công bắt nguồn từ Sắc lệnh số 20/SL ngày 16/02/1947 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký. Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, hệ thống văn bản pháp luật không ngừng được hoàn thiện. Hiện nay, Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng (sửa đổi, bổ sung) là văn bản pháp lý cao nhất, quy định chi tiết 12 nhóm đối tượng thụ hưởng. Các văn bản này là cơ sở để Sở Lao động - Thương binh và Xã hội An Giang và các cấp chính quyền địa phương triển khai các chế độ đãi ngộ người có công một cách đồng bộ và thống nhất. Việc thể chế hóa các chủ trương của Đảng thành luật pháp đã tạo ra một hành lang pháp lý vững chắc, đảm bảo quyền lợi chính đáng cho người có công và gia đình họ, đồng thời là công cụ để các cơ quan nhà nước thực thi nhiệm vụ quản lý.

1.2. Ý nghĩa của công tác đền ơn đáp nghĩa tại An Giang

Tại An Giang, công tác đền ơn đáp nghĩa không chỉ dừng lại ở việc thực hiện các chế độ trợ cấp. Nó đã trở thành một phong trào xã hội sâu rộng, huy động sức mạnh của toàn dân. Hoạt động này mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện trách nhiệm của thế hệ hôm nay đối với những người đã hy sinh xương máu vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Thông qua các hoạt động như xây dựng nhà tình nghĩa, tặng sổ tiết kiệm, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng, thăm hỏi các gia đình chính sách dịp lễ, Tết, vai trò của chính quyền địa phương và các tổ chức đoàn thể được thể hiện rõ nét. Những hành động này không chỉ cải thiện đời sống người có công mà còn có tác dụng giáo dục truyền thống yêu nước, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần xây dựng một xã hội nhân ái, nghĩa tình.

II. Thách thức trong thực hiện chính sách người có công ở An Giang

Mặc dù đạt được nhiều thành tựu quan trọng, việc thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng ở tỉnh An Giang vẫn đối mặt với không ít khó khăn và thách thức. Theo nghiên cứu, những hạn chế này xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Việc nhận diện rõ thực trạng và giải pháp là yêu cầu cấp thiết để nâng cao hiệu quả chính sách. Một trong những rào cản lớn nhất là sự thiếu thống nhất và chậm trễ trong việc ban hành văn bản hướng dẫn, dẫn đến tình trạng chồng chéo, khó khăn trong áp dụng. Bên cạnh đó, nguồn lực thực hiện chính sách, bao gồm cả tài chính và nhân sự, vẫn còn hạn chế. Năng lực của một bộ phận cán bộ công chức trực tiếp thực thi nhiệm vụ chưa đáp ứng yêu cầu, công tác tuyên truyền đôi khi chưa sâu rộng, khiến một số người có công chưa tiếp cận được đầy đủ quyền lợi của mình. Những tồn tại này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả quản lý nhà nước và mức độ hài lòng của đối tượng thụ hưởng.

2.1. Hạn chế từ hệ thống văn bản và thủ tục hành chính

Nghiên cứu của Nguyễn Văn Thạnh (2021) chỉ ra rằng một số văn bản hướng dẫn thi hành Pháp lệnh ưu đãi người có công còn thiếu đồng bộ, đôi khi chậm được ban hành. Điều này tạo ra những khoảng trống pháp lý, gây lúng túng cho các cán bộ ở cơ sở. Thủ tục hành chính để xác nhận và giải quyết chế độ cho một số trường hợp vẫn còn rườm rà, phức tạp. Ví dụ, việc xác lập hồ sơ cho người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học hoặc người bị địch bắt tù, đày đòi hỏi nhiều giấy tờ, nhân chứng lịch sử, gây khó khăn cho cả người dân và cơ quan chức năng. Việc đơn giản hóa thủ tục, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hồ sơ là một trong những giải pháp cần được ưu tiên để tháo gỡ nút thắt này.

2.2. Vấn đề về nguồn lực và năng lực cán bộ thực thi

Nguồn lực thực hiện chính sách là yếu tố then chốt nhưng tại An Giang vẫn còn những hạn chế nhất định. Ngân sách nhà nước cấp cho các chương trình hỗ trợ, đặc biệt là hỗ trợ nhà ở, đôi khi chưa đáp ứng đủ nhu cầu thực tế. Về con người, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ cấp xã, phường đôi khi chưa đồng đều. Họ là những người trực tiếp tiếp xúc, hướng dẫn người dân nhưng lại chịu áp lực công việc lớn với nhiều mảng phụ trách. Việc thiếu các chương trình đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về chính sách người có công làm ảnh hưởng đến chất lượng tư vấn và giải quyết hồ sơ. Do đó, việc nâng cao năng lực cho đội ngũ này là một yêu cầu cấp bách để đảm bảo chính sách được thực thi một cách chính xác và hiệu quả.

III. Phương pháp tổ chức thực hiện chính sách ưu đãi tại An Giang

Để nâng cao hiệu quả, tỉnh An Giang đã triển khai một quy trình tổ chức thực hiện chính sách ưu đãi người có công một cách bài bản và khoa học. Trọng tâm của phương pháp này là xác định rõ vai trò của chính quyền địa phương ở từng cấp, đặc biệt là vai trò tham mưu, chủ trì của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội An Giang. Quá trình này không chỉ là việc áp dụng các quy định từ trung ương mà còn bao gồm việc ban hành các văn bản chỉ đạo, kế hoạch cụ thể phù hợp với tình hình thực tế của tỉnh. Việc xây dựng một quy trình rõ ràng, từ khâu lập kế hoạch, tuyên truyền, phân công thực hiện, cho đến kiểm tra, giám sát và tổng kết, đã giúp hệ thống hóa công việc, giảm thiểu sai sót và đảm bảo các chế độ đãi ngộ người có công đến đúng đối tượng, kịp thời và minh bạch. Phương pháp này nhấn mạnh sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban, ngành và sự tham gia của cả hệ thống chính trị.

3.1. Vai trò của Sở Lao động Thương binh và Xã hội An Giang

Sở Lao động - Thương binh và Xã hội An Giang đóng vai trò là cơ quan thường trực, chịu trách nhiệm chính trong việc tham mưu cho UBND tỉnh và tổ chức triển khai chính sách. Nhiệm vụ của Sở bao gồm việc hướng dẫn các địa phương về thủ tục, thẩm định hồ sơ, trình duyệt công nhận người có công, và quản lý việc chi trả trợ cấp. Sở cũng là đầu mối phối hợp với các ngành liên quan như Y tế, Xây dựng, Giáo dục để thực hiện các chế độ ưu đãi khác như bảo hiểm y tế, hỗ trợ nhà ở, miễn giảm học phí. Bên cạnh đó, Sở còn chủ trì công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến chính sách, đảm bảo việc thực thi diễn ra công khai, minh bạch và đúng pháp luật.

3.2. Quy trình 7 bước triển khai chính sách ưu đãi hiệu quả

Luận văn đã khái quát quy trình thực hiện chính sách tại An Giang qua 7 bước cơ bản: (1) Xây dựng kế hoạch triển khai; (2) Phổ biến, tuyên truyền chính sách; (3) Phân công, phối hợp thực hiện; (4) Duy trì chính sách; (5) Điều chỉnh, bổ sung chính sách khi cần thiết; (6) Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện; và (7) Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm. Quy trình này tạo thành một chu trình khép kín, cho phép các cơ quan chức năng kiểm soát toàn bộ quá trình từ khi chính sách được ban hành đến khi đi vào cuộc sống. Đặc biệt, khâu theo dõi, kiểm tra và đánh giá giúp phát hiện kịp thời những bất cập để đề xuất điều chỉnh, đảm bảo chính sách luôn phù hợp với thực tiễn, từ đó nâng cao hiệu quả chính sách.

IV. Đánh giá hiệu quả thực hiện chính sách người có công An Giang

Qua nhiều năm nỗ lực, việc thực hiện chính sách ưu đãi người có công tại An Giang đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, tác động tích cực đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Đánh giá hiệu quả chính sách cho thấy đời sống vật chất và tinh thần của đại đa số người có công và gia đình họ đã được cải thiện rõ rệt. Tính đến năm 2020, tỉnh quản lý trên 40.000 hồ sơ, chi trả trợ cấp hàng tháng đầy đủ, kịp thời. Các phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” được triển khai sâu rộng, góp phần xây dựng hàng nghìn căn nhà tình nghĩa, hỗ trợ vốn sản xuất, tạo việc làm. Hầu hết các xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh đều được công nhận làm tốt công tác thương binh, liệt sĩ. Những kết quả này khẳng định sự quan tâm sâu sắc của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân An Giang, góp phần củng cố niềm tin và tạo sự đồng thuận xã hội, đảm bảo an sinh xã hội tỉnh An Giang.

4.1. Cải thiện đời sống người có công và gia đình chính sách

Mục tiêu cao nhất của chính sách là nâng cao đời sống người có công, đảm bảo mức sống của họ bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của người dân địa phương. Tại An Giang, mục tiêu này đã cơ bản đạt được. Bên cạnh các khoản trợ cấp hàng tháng, các đối tượng như thương binh, bệnh binh, thân nhân liệt sĩ còn được hưởng nhiều chế độ ưu đãi khác về y tế, giáo dục, nhà ở. Con em người có công được miễn giảm học phí, ưu tiên trong tuyển sinh. Chương trình hỗ trợ nhà ở theo Quyết định 22/2013/QĐ-TTg đã giúp hàng nghìn hộ gia đình cải thiện điều kiện sống. Sự chăm lo toàn diện này đã giúp các gia đình chính sách vơi đi những khó khăn, ổn định cuộc sống và tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, trở thành những tấm gương sáng trong cộng đồng.

4.2. Số liệu thực tiễn về các chế độ đãi ngộ người có công

Số liệu từ luận văn cho thấy kết quả cụ thể trong giai đoạn 2016-2020. Tỉnh đã thực hiện điều dưỡng cho 17.000 lượt người có công với kinh phí 25 tỷ đồng. Hàng chục nghìn lượt đối tượng được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí. Về giáo dục, 2.768 lượt con em người có công được nhận trợ cấp với số tiền hơn 7 tỷ đồng. Đặc biệt, công tác hỗ trợ nhà ở đã huy động được cả nguồn ngân sách trung ương và nguồn xã hội hóa của địa phương để xây mới và sửa chữa hàng nghìn căn nhà. Những con số này là minh chứng rõ ràng nhất cho hiệu quả chính sách, cho thấy sự nỗ lực không ngừng của vai trò chính quyền địa phương và toàn xã hội trong việc thực hiện công tác đền ơn đáp nghĩa một cách thiết thực.

V. Giải pháp nâng cao hiệu quả chính sách ưu đãi ở An Giang

Để tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được và khắc phục các hạn chế còn tồn tại, việc đề ra các giải pháp đồng bộ là vô cùng cần thiết. Dựa trên phân tích thực trạng và giải pháp từ luận văn, An Giang cần tập trung vào việc hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực thực thi và đẩy mạnh xã hội hóa. Cần tiếp tục rà soát, kiến nghị sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp quy cho phù hợp với thực tiễn, đặc biệt là đơn giản hóa thủ tục hành chính. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ cán bộ làm công tác chính sách ở cơ sở là yếu tố then chốt. Bên cạnh đó, việc đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền và huy động thêm nguồn lực thực hiện chính sách từ cộng đồng, doanh nghiệp sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp, đảm bảo an sinh xã hội tỉnh An Giang một cách bền vững và toàn diện cho người có công.

5.1. Hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực thực thi chính sách

Giải pháp hàng đầu là tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách. Tỉnh cần chủ động kiến nghị với các bộ, ngành Trung ương về những vướng mắc trong quá trình áp dụng Pháp lệnh ưu đãi người có công. Đồng thời, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội An Giang cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra để kịp thời chấn chỉnh sai sót. Việc đầu tư cho các chương trình tập huấn, nâng cao kỹ năng cho cán bộ cấp huyện, xã về nghiệp vụ, kỹ năng giao tiếp và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hồ sơ sẽ góp phần nâng cao tính chuyên nghiệp và hiệu quả công việc, giảm thiểu phiền hà cho người dân.

5.2. Đẩy mạnh xã hội hóa và tăng cường công tác tuyên truyền

Bên cạnh nguồn ngân sách nhà nước, việc đẩy mạnh xã hội hóa công tác đền ơn đáp nghĩa là một hướng đi bền vững. Cần có cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân tham gia đóng góp xây dựng quỹ, nhận phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng, hỗ trợ các gia đình chính sách có hoàn cảnh khó khăn. Công tác tuyên truyền cần được đổi mới, không chỉ phổ biến chính sách mà còn nêu gương các điển hình người có công vượt khó vươn lên, các tập thể, cá nhân làm tốt công tác chăm sóc. Điều này vừa lan tỏa giá trị nhân văn, vừa huy động hiệu quả hơn nguồn lực thực hiện chính sách từ toàn xã hội, đảm bảo không một người có công nào bị bỏ lại phía sau.

05/10/2025
Luận văn thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng ở tỉnh an giang

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG 1. Người có công với cách mạng và chính sách ưu đãi người có công với cách mạng 1. Khái niệm, đặc điểm người có công với cách mạng 1. Khái niệm người có công với cách mạng Hiện nay căn cứ pháp lý để thực hiện chính sách ưu đãi NCC với cách mạng quy định tại Khoản 1 Điều 2 Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng số 26/2005/PL-UBTVQH11 đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng số 04/2012/UBTVQH13 “Người có công giúp đỡ cách mạng là người đã có thành tích giúp đỡ cách mạng trong lúc khó khăn, nguy hiểm, bao gồm: - Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945; - Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám năm 1945; - Liệt sỹ; - Bà mẹ Việt Nam anh hùng; - Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; - Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến; - Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; - Bệnh binh; - Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; - Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày; - Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế; - NCC giúp đỡ cách mạng.

Theo quan điểm tác giả, NCC với cách mạng là những người được thụ hưởng chế độ ưu đãi đối với NCC với cách mạng, được điều chỉnh bởi Pháp lệnh về NCC 8 với cách mạng hiện hành. Họ là những người bình thường, làm việc đại nghĩa, có công lao lớn đối với đất nước, đó là nghĩa vụ không bao giờ kể công và không đòi hỏi cộng đồng phải báo nghĩa. Họ là những người tham gia hoặc giúp đỡ cách mạng, họ đã hy sinh cả cuộc đời hoặc một phần thân thể hoặc có thành tích đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Trên các cơ sở trên và tác giả nghiên cứu có thể khái niệm NCC theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp như sau: Theo nghĩa rộng: NCC là người bình thường, làm việc đại nghĩa, có công lao lớn đối với đất nước, đó là nghĩa vụ không bao giờ kể công và không đòi hỏi cộng đồng phải báo nghĩa.13] Theo nghĩa hẹp: NCC là những người tham gia hoặc giúp đỡ cách mạng, họ đã hy sinh cả cuộc đời hoặc một phần thân thể hoặc có thành tích đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đặc điểm người có công với cách mạng Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, nhân dân ta nói chung, NCC cách mạng nói riêng, họ luôn phải gồng mình chống lại giặc ngoại xâm và thiên tai khắc nghiệt, lập nên biết bao chiến công hiển hách, những trang sử vẻ vang của dân tộc, những NCC với Cách mạng luôn tự hào và được tôn trọng trong mọi tầng lớp xã hội. Mặc dù NCC với Cách mạng vĩnh viễn mất đi tuổi thanh xuân, tất cả những người con, người cha, người mẹ, người anh, người em, mất đi một phần thân thể, xương máu, nhiễm chất độc hóa học, không được tham gia lao động như bao nhiêu người khác, và thậm chí mất đi thiên chức làm cha, làm mẹ, làm ông, làm bà, trở thành người già neo đơn không có người thân để chăm sóc, phụng dưỡng lúc tuổi già. Với những mất mát, hy sinh đó họ luôn có tinh thần yêu nước nồng nàn, luôn trung thành với lý tưởng cách mạng mà Đảng, Nhà nước và Bác Hồ đã chọn. Những đặc điểm trên giúp cho NCC với cách mạng, các thương binh, bệnh binh xoa dịu bớt đi nỗi đau da thịt hành hạ thân thể trong những lúc giao mùa và biến đổi khí hậu.

9 Đối với các gia đình thương binh, gia đình liệt sỹ và gia đình NCC với cách mạng luôn có những đặc điểm khác nhau: Người mãi mãi mất đi tình thương, người không tham gia lao động, nhà thì chưa được kiên cố, người thì không có đủ thu nhập để sống, người thì không có người chăm sóc. Mỗi giai đoạn lịch sử thì họ có những khó khăn khác nhau. Chính sách ưu đãi người có công với cách mạng 1.1 Khái niệm chính sách ưu đãi người có công với cách mạng Chính sách ưu đãi NCC với cách mạng là đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước căn cứ nhiệm vụ chính trị từng thời kỳ cách mạng, dựa trên cơ sở là sự phát triển KT - XH của nước ta nhằm ghi nhận công lao, đóng góp, sự hy sinh cao cả NCC với Cách mạng. Phản ánh được sự đặc biệt quan tâm đầy trách nhiệm của nhà nước, của cộng đồng toàn thể xã hội, của thế hệ đi sau đối với thế hệ đi trước của ông cha ta, thể hiện qua các văn bản pháp luật và các cơ sở pháp lý ưu đãi cho NCC với Cách mạng theo từng giai đoạn lịch sử.

Để góp phần ổn định chính trị xã hội, đồng thời cũng thể hiện sự ghi nhận và biết ơn của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội đối với NCC và gia đình NCC với cách mạng đòi hỏi Đảng, Nhà nước ta không ngừng hoàn thiện thể chế hóa chính sách ưu đãi cho NCC với cách mạng ngày một tốt hơn. Tóm lại, chính sách ưu đãi người có công với cách mạng là đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện chế độ đãi ngộ đối với những NCC đối với đất nước nhằm mục đích ghi nhận công lao, sự đóng góp, sự hy sinh cao cả của họ; đồng thời đền đáp, bù đắp phần nào về đời sống vật chất, tinh thần đối với NCC với Cách mạng và gia đình của họ. Chính sách ưu đãi của Nhà nước đối với người có công với cách mạng Nhằm bù đắp lại phần nào về đời sống vật chất, tinh thần đối với NCC với Cách mạng và gia đình của họ, Đảng, Nhà nước không ngừng ban hành văn bản, hoàn thiện hệ thống pháp luật ưu đãi. Có thể phân chia theo các giai đoạn như sau: Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954: Giai đoạn này tiêu biểu nhất là ngay trong cuộc chiến chống thực dân Pháp, thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 16/02/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 20/SL “Quy 10 định chế độ hưu bổng thương tật và tiền tuất tử sĩ”.

Đây được xem là Pháp lệnh đầu tiên khẳng định vị trí quan trọng của công tác thương binh, liệt sỹ đối với cuộc chiến tranh vệ quốc và lấy ngày 27/7/1947 làm Ngày Thương binh - Liệt sỹ toàn quốc - Ngày toàn dân cùng thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, là dịp để đồng bào “tỏ lòng hiếu nghĩa bác ái và tỏ lòng yêu mến thương binh”. Trong lá thư đầu tiên Hồ Chí Minh viết nhân dịp 27/7, theo lời của Người: “Đang khi Tổ quốc lâm nguy, giang sơn, sự nghiệp, mồ mả, đền chùa, nhà thờ của tổ tiên ta bị uy hiếp, cha mẹ, anh em, vợ con, thân thích, họ hàng ta bị đe dọa. Của cải, ruộng nương, nhà cửa, ao vườn, làng mạc ta bị nguy ngập. Ai là người xung phong trước hết để chống cự quân thù, để giữ gìn đất nước cho chúng ta? Đó là những chiến sĩ mà nay một số thành ra thương binh.” Người cũng nhấn mạnh trong thư: “Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào.Vì lợi ích của Tổ quốc, của đồng bào mà các đồng chí chịu ốm yếu, què quặt” [26, tr.

Vì vậy, Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy. Vì nghĩa cử và sự hy sinh cao cả của thương binh, liệt sỹ và NCC với Cách mạng nên Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở: “Đối với những người con trung hiếu ấy, Chính phủ và đồng bào phải báo đáp thế nào cho xứng đáng?”[27,tr. Thực hiện lời dạy của Bác Hồ kính yêu Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản, chính sách có liên quan đến quy định về vấn đề thương binh, tử sỹ,… và những ưu đãi cho họ. Đồng thời Đảng và Nhà nước cũng khuyến khích, động viên toàn dân nổi lên phong trào giúp đỡ, chăm sóc đối tượng này.

Giai đoạn từ năm 1955 đến năm 1975: Đây là giai đoạn chiến tranh ác liệt của quân và dân ta, nhưng Đảng và Nhà nước ta không ngừng hoàn thiện chính sách ưu đãi NCC, thương binh, liệt sỹ và gia đình họ. Đã ban hành nhiều văn bản ưu đãi nổi bậc nhất là Nghị định số 161/CP, ngày 30/10/1964 kèm theo bản Điều lệ tạm thời về chế độ đãi ngộ với quân nhân, thanh niên xung kích và quy định chế độ thương tật mới là 08 hạng, mức khởi điểm là 21%. Đây cũng là những văn bản góp phần to lớn vào việc thực hiện chính sách hậu phương quân đội, củng cố và tăng cường tiềm lực trong kháng chiến. 11 Giai đoạn từ năm 1976 đến năm 1986: Đây là giai đoạn đất nước vừa được thống nhất, trong điều kiện đất nước còn rất nhiều khó khăn về kinh tế, an ninh - chính trị luôn bất ổn, chịu sự chống phá quyết liệt của các thế lịch thù địch - bại chiến.

Nhưng Nhà nước đã ban hành hàng trăm văn bản liên quan đến việc ưu đãi NCC với cách mạng, đáp ứng nhu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội, từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong giai đoạn này chú ý nhất là Nghị định số 236/HĐBT, ngày 18/9/1985 của Hội đồng Bộ trưởng bổ sung, xóa bỏ sự khác biệt trong các quy định ưu đãi trong lịch sử để lại. Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 1994: Đây là giai đoạn đất nước ta phát triển, tiến bộ vựơt bậc. Hệ thống văn bản, các Nghị định, Thông tư thi hành chính sách trên lĩnh vực ưu đãi NCC với cách mạng cũng tiến bộ theo hướng hoàn thiện hơn, cụ thể nhất là Quyết định số 79/HĐBT, ngày 05/7/1989, Quyết định số 08/HĐBT ngày 05/01/1990, Nghị định số 27/CP, ngày 23/4/1993, và nổi bật nhất là 02 văn bản vào ngày 29/8/1994, của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội là Pháp lệnh ưu đãi NCC đối với cách mạng, liệt sỹ, thương binh, người hoạt động kháng chiến, NCC giúp đỡ cách mạng, Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.

Đồng thời ban hành nhiều Thông tư, Nghị định để hướng dẫn thực hiện 02 Pháp lệnh trên.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ