Luận văn: Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cho người Chăm, Khmer ở An Giang

Chuyên khảo phân tích Luận văn thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào chăm và khmer trên địa bàn tỉnh an, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Chính sách công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

82
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan chính sách giảm nghèo cho đồng bào Chăm Khmer

Việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào Chăm và Khmer trên địa bàn tỉnh An Giang là một chủ trương lớn, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước. Đây không chỉ là nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội mà còn mang ý nghĩa chính trị, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong nhiều năm, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Đặc biệt, các chính sách luôn ưu tiên vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS), nơi có điều kiện sống còn nhiều khó khăn. An Giang, với đặc thù là tỉnh biên giới có cộng đồng người Chăm và Khmer sinh sống lâu đời, đã và đang triển khai nhiều chương trình, dự án nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân. Các chính sách này được xây dựng dựa trên cơ sở lý luận vững chắc và thực tiễn địa phương, hướng tới mục tiêu giảm nghèo đa chiều, không chỉ cải thiện thu nhập mà còn nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Mục tiêu cuối cùng là tạo ra sự phát triển đồng đều, bền vững, không để ai bị bỏ lại phía sau, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ.

1.1. Cơ sở lý luận về chính sách dân tộc và giảm nghèo bền vững

Cơ sở lý luận cho việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững xuất phát từ quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam: các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng phát triển. Nguyên tắc này được thể hiện rõ qua Hiến pháp và hệ thống chính sách dân tộc. Giảm nghèo được định nghĩa không chỉ là thiếu hụt về thu nhập mà còn là "thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội". Theo đó, xóa đói giảm nghèo bền vững là quá trình tạo cơ hội để người nghèo thoát nghèo ổn định, không ngừng tăng thu nhập và không tái nghèo trước các tác động bất lợi. Luận văn của tác giả Tô Hằng Ni nhấn mạnh, việc thực hiện chính sách phải trải qua một quy trình khoa học, từ xây dựng kế hoạch, tuyên truyền, phân công phối hợp đến kiểm tra, đánh giá. Các văn kiện Đảng qua các thời kỳ, đặc biệt là Nghị quyết Đại hội XII và Nghị quyết số 120/2020/QH14 của Quốc hội, đã khẳng định quyết tâm đầu tư toàn diện cho vùng DTTS, coi đây là nhiệm vụ chiến lược.

1.2. Tầm quan trọng của chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo

Các chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo đóng vai trò xương sống trong việc hiện thực hóa chủ trương của Đảng. Giai đoạn 2016-2020, chương trình đã có sự chuyển biến rõ rệt về chất lượng, chuyển từ tiêu chí nghèo đơn chiều sang đa chiều, tiệm cận chuẩn quốc tế. Việc tích hợp các chương trình nhỏ lẻ thành hai chương trình mục tiêu quốc gia lớn (Nông thôn mới và Giảm nghèo bền vững) đã giúp thu gọn đầu mối quản lý, tập trung nguồn lực hiệu quả hơn. Đối với An Giang, việc triển khai các chương trình này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nó không chỉ giúp cải thiện hạ tầng, hỗ trợ sản xuất mà còn đảm bảo an sinh xã hội cho dân tộc thiểu số, góp phần ổn định chính trị vùng biên giới. Theo tác giả, "đầu tư cho vùng DTTS là việc làm cần thiết, thường xuyên, lâu dài để từng bước tạo sự thay đổi cơ bản về đời sống KT-XH cho các hộ nghèo".

II. 04 rào cản chính trong giảm nghèo cho Chăm và Khmer ở An Giang

Mặc dù đạt được nhiều kết quả tích cực, công tác thoát nghèo cho đồng bào Chăm, Khmer tại An Giang vẫn đối mặt với không ít thách thức. Kết quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững, nguy cơ tái nghèo còn cao do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan. Thực trạng nghèo đói ở An Giang cho thấy tỷ lệ hộ nghèo vẫn tập trung chủ yếu ở các xã có đông đồng bào DTTS, đặc biệt là hai huyện miền núi Tri Tôn và Tịnh Biên. Các rào cản chính bao gồm hạn chế về nguồn lực sản xuất, ảnh hưởng từ một số phong tục tập quán chưa phù hợp, trình độ dân trí và tay nghề còn thấp, cũng như khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản còn hạn chế. Việc phân tích sâu sắc các nguyên nhân này là cơ sở quan trọng để đề xuất các giải pháp phù hợp, hiệu quả, giúp chính sách đi vào chiều sâu và mang lại thay đổi thực chất cho đời sống người dân, hướng tới mục tiêu giảm nghèo một cách toàn diện và bền vững trong giai đoạn tiếp theo.

2.1. Phân tích hạn chế về đất đai và phương tiện sản xuất

Thiếu đất sản xuất và đất ở là một trong những nguyên nhân gốc rễ dẫn đến đói nghèo. Đối với đồng bào Khmer, đất canh tác chủ yếu tập trung ở vùng đồi núi, manh mún, thiếu nước tưới, dẫn đến năng suất thấp. Trong khi đó, nhiều gia đình người Chăm với truyền thống sống du cư, mua bán trên sông nước, khi chuyển sang định cư lại gặp khó khăn về đất đai. Luận văn chỉ ra: "Một bộ phận không nhỏ hộ dân tộc... được Nhà nước cấp đất sản xuất nhưng chưa thật sự chí thú làm ăn... đã sang nhượng, cầm cố do thiếu vốn, sản xuất không hiệu quả". Bên cạnh đó, các phương tiện sản xuất còn lạc hậu, việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào canh tác còn hạn chế, khiến hiệu quả kinh tế không cao. Đây là rào cản lớn cần có chính sách tháo gỡ để tạo nền tảng cho hỗ trợ sản xuất cho người nghèo một cách hiệu quả.

2.2. Ảnh hưởng từ phong tục tập quán đến phát triển kinh tế

Các yếu tố văn hóa và tập quán truyền thống có tác động hai mặt đến đời sống kinh tế. Một mặt, nó giúp cố kết cộng đồng, bảo tồn bản sắc. Mặt khác, một số tập quán chưa phù hợp lại là rào cản cho sự phát triển. Đối với đời sống đồng bào Khmer Nam Bộ, các lễ hội tôn giáo diễn ra quanh năm, chi phí tốn kém. Tinh thần cộng đồng gắn chặt với ngôi chùa đôi khi khiến việc đầu tư cho sản xuất của gia đình bị xem nhẹ. Tương tự, trong cộng đồng người Chăm, việc tuân thủ nghiêm ngặt các nghi lễ tôn giáo cũng chiếm nhiều thời gian. Tập quán kết hôn sớm, sinh nhiều con vẫn còn tồn tại, tạo áp lực lớn lên kinh tế hộ gia đình. Việc thay đổi nhận thức, vận động loại bỏ các hủ tục lạc hậu trong khi vẫn bảo tồn văn hóa dân tộc là một bài toán khó, đòi hỏi sự kiên trì và phương pháp tiếp cận phù hợp.

2.3. Thách thức về lao động việc làm và trình độ dân trí

Trình độ dân trí và tay nghề thấp là một thách thức lớn. Phần lớn lao động người Chăm và Khmer là lao động giản đơn, thu nhập bấp bênh từ làm thuê thời vụ. Các chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn đôi khi chưa phù hợp với nhu cầu thực tế và đặc điểm văn hóa của đồng bào. Tỷ lệ bỏ học ở trẻ em DTTS còn cao, ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực trong tương lai. Luận văn nhận định, một bộ phận người dân còn có "tâm lý ỷ lại, thụ động", trông chờ vào sự trợ giúp của Nhà nước thay vì chủ động vươn lên. Do đó, bên cạnh các chính sách hỗ trợ, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, khơi dậy ý chí tự lực, tự cường để người dân chủ động tham gia vào quá trình giảm nghèo.

III. Phương pháp hỗ trợ kinh tế tạo sinh kế giảm nghèo bền vững

Để giải quyết gốc rễ của đói nghèo, các giải pháp kinh tế và tạo sinh kế đóng vai trò quyết định trong việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào Chăm và Khmer. Thay vì hỗ trợ trực tiếp, các chính sách hiện nay tập trung vào việc trao "cần câu", nâng cao năng lực tự vươn lên cho người dân. Các phương pháp này được triển khai đồng bộ, từ việc cung cấp nguồn vốn ưu đãi, xây dựng các mô hình sản xuất hiệu quả, đến đào tạo nghề và chuyển giao khoa học kỹ thuật. Mục tiêu là giúp các hộ nghèo không chỉ thoát nghèo mà còn có khả năng tích lũy, mở rộng sản xuất và làm giàu chính đáng. Vai trò của chính quyền địa phương trong việc kết nối, định hướng và tạo điều kiện cho người dân tiếp cận các nguồn lực này là vô cùng quan trọng, đảm bảo chính sách được thực thi hiệu quả và minh bạch.

3.1. Hướng dẫn nhân rộng các mô hình sinh kế bền vững hiệu quả

Việc xây dựng và nhân rộng các mô hình sinh kế bền vững phù hợp với điều kiện tự nhiên và văn hóa của từng dân tộc là giải pháp then chốt. Tại An Giang, các mô hình như trồng lúa chất lượng cao, chăn nuôi bò, dệt thổ cẩm truyền thống của người Chăm, hay làm đường thốt nốt của người Khmer đã bước đầu mang lại hiệu quả. Chính sách của tỉnh tập trung hỗ trợ con giống, vật tư, tập huấn kỹ thuật và kết nối thị trường tiêu thụ sản phẩm. Theo nghiên cứu, việc "phân loại những hộ nghèo theo nguyên nhân nghèo để có chính sách phù hợp với từng đối tượng" và "mở rộng chính sách hỗ trợ sinh kế đối với những hộ mới thoát nghèo, hộ cận nghèo" là cần thiết để chống tái nghèo và đảm bảo tính bền vững của các mô hình này.

3.2. Bí quyết sử dụng hiệu quả tín dụng chính sách xã hội

Nguồn vốn là yếu tố đầu vào không thể thiếu cho sản xuất. Tín dụng chính sách xã hội thông qua Ngân hàng Chính sách Xã hội đã trở thành kênh dẫn vốn quan trọng, giúp hàng ngàn hộ nghèo DTTS có điều kiện đầu tư. Nguồn vốn này được sử dụng để mua sắm tư liệu sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi và giải quyết việc làm. Tuy nhiên, để đồng vốn phát huy hiệu quả, cần tăng cường công tác hướng dẫn, giám sát việc sử dụng vốn vay đúng mục đích. Việc lồng ghép cho vay vốn với các chương trình khuyến nông, khuyến công và đào tạo nghề sẽ giúp người dân sử dụng đồng vốn một cách hiệu quả nhất, tạo ra giá trị gia tăng và đảm bảo khả năng hoàn trả, duy trì vòng quay của nguồn vốn chính sách.

3.3. Tăng cường đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm tại chỗ

Đào tạo nghề phải gắn liền với nhu cầu của thị trường và giải quyết việc làm tại chỗ. Các chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn cần được thiết kế linh hoạt, ưu tiên các ngành nghề mà địa phương có thế mạnh như nông nghiệp công nghệ cao, du lịch cộng đồng, chế biến nông sản, hay các nghề thủ công truyền thống. Việc phối hợp chặt chẽ giữa cơ sở đào tạo, chính quyền và doanh nghiệp để đảm bảo đầu ra cho học viên là yếu tố quyết định thành công. Chính sách hỗ trợ kinh phí ban đầu cho người nghèo đi lao động ngoài tỉnh cũng là một giải pháp tình thế quan trọng, nhưng về lâu dài, việc tạo việc làm tại chỗ thông qua thu hút đầu tư vào vùng DTTS mới là giải pháp căn cơ để phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS.

IV. Cách tiếp cận đa chiều An sinh xã hội và bảo tồn văn hóa

Giảm nghèo không chỉ là câu chuyện về kinh tế. Một chính sách giảm nghèo bền vững cần có cách tiếp cận đa chiều, quan tâm đồng bộ đến các vấn đề xã hội, văn hóa và môi trường. Việc cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục và các dịch vụ xã hội cơ bản khác là yếu tố nền tảng để nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển con người. Song song đó, việc bảo tồn văn hóa dân tộc và phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp không chỉ là nhiệm vụ giữ gìn bản sắc mà còn là nguồn lực nội sinh quan trọng cho sự phát triển. Khi đời sống tinh thần được quan tâm, người dân sẽ có thêm động lực, niềm tin để tham gia tích cực vào công cuộc xây dựng quê hương, góp phần thực hiện thành công mục tiêu giảm nghèo đa chiều.

4.1. Cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ y tế và giáo dục cơ bản

Nhà nước đã triển khai nhiều chính sách ưu tiên để cải thiện việc tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục cho đồng bào DTTS. Các chính sách như cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí, hỗ trợ chi phí học tập, miễn giảm học phí, cử tuyển đã tạo điều kiện cho nhiều người dân, đặc biệt là trẻ em, được chăm sóc sức khỏe và đến trường. Tuy nhiên, chất lượng dịch vụ ở vùng sâu, vùng xa vẫn còn khoảng cách so với khu vực thành thị. Cần tiếp tục đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất cho các trạm y tế xã, trường học; tăng cường đội ngũ y bác sĩ, giáo viên có chuyên môn và am hiểu văn hóa địa phương. Đặc biệt, việc dạy và học song ngữ (tiếng Việt và tiếng dân tộc) cần được chú trọng để nâng cao chất lượng giáo dục và bảo tồn ngôn ngữ mẹ đẻ.

4.2. Lồng ghép phát triển nông thôn mới với chính sách dân tộc

Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển nông thôn mới và chính sách giảm nghèo có mối quan hệ tương hỗ chặt chẽ. Việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu như đường giao thông, điện, hệ thống thủy lợi, trường học, trạm xá... trong chương trình nông thôn mới đã làm thay đổi bộ mặt nông thôn vùng DTTS. Hạ tầng phát triển giúp kết nối vùng khó khăn với các trung tâm kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi cho giao thương hàng hóa, thu hút đầu tư và nâng cao đời sống dân sinh. Việc lồng ghép các mục tiêu giảm nghèo vào tiêu chí xây dựng nông thôn mới đảm bảo rằng thành quả phát triển được chia sẻ công bằng, trong đó người nghèo, hộ nghèo là đối tượng được hưởng lợi trực tiếp.

4.3. Phát huy vai trò của văn hóa người Chăm Khmer trong du lịch

Bản sắc văn hóa độc đáo của người Chăm và Khmer là một tài nguyên quý giá để phát triển du lịch, tạo ra sinh kế mới. Văn hóa người Chăm An Giang với các thánh đường Hồi giáo cổ kính, làng nghề dệt thổ cẩm, ẩm thực đặc sắc hay đời sống đồng bào Khmer Nam Bộ với hệ thống chùa tháp nguy nga, các lễ hội truyền thống như Chol Chnam Thmay, đua bò Bảy Núi... là những điểm nhấn hấp dẫn du khách. Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ các địa phương phát triển du lịch cộng đồng, gắn kết bảo tồn di sản với tạo thu nhập cho người dân. Như tác giả Nguyễn Tuân đề cập, "quan tâm nâng cao đời sống vật chất phải đi liền với đời sống tinh thần", đây là vấn đề then chốt để đạt mục tiêu giảm nghèo bền vững.

V. Đánh giá kết quả chính sách giảm nghèo tại An Giang 2016 2020

Giai đoạn 2016-2020, tỉnh An Giang đã tập trung nguồn lực và triển khai đồng bộ nhiều giải pháp để thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo được thực hiện quyết liệt từ tỉnh đến cơ sở. Ban Chỉ đạo chương trình được kiện toàn, hoạt động hiệu quả. Nhờ đó, công tác giảm nghèo đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Đời sống của đồng bào Chăm và Khmer từng bước được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo giảm đáng kể qua từng năm, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội vùng DTTS được tăng cường đầu tư. Việc đánh giá tác động chính sách một cách toàn diện cho thấy sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị và sự vươn lên của người dân đã tạo ra những chuyển biến tích cực, góp phần quan trọng vào sự phát triển chung của tỉnh.

5.1. Phân tích số liệu và các chỉ tiêu giảm nghèo đã đạt được

Trong giai đoạn 2016-2020, An Giang đã đạt và vượt nhiều chỉ tiêu quan trọng. Theo số liệu từ luận văn, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều toàn tỉnh đến năm 2020 giảm còn 1,93%, đạt mức giảm bình quân 1,5%/năm, hoàn thành mục tiêu Nghị quyết đề ra. Đặc biệt, tại các xã, huyện khó khăn có đông đồng bào DTTS, tốc độ giảm nghèo còn nhanh hơn. GRDP bình quân đầu người năm 2020 đạt trên 46,8 triệu đồng, tăng gần 16 triệu đồng so với năm 2015. Tổng nguồn lực thực hiện chính sách được huy động từ ngân sách trung ương, địa phương và xã hội hóa đạt hàng trăm tỷ đồng, tập trung đầu tư cho các dự án hạ tầng, hỗ trợ sản xuất và các chính sách an sinh xã hội. Những con số này minh chứng cho hiệu quả tích cực của các chính sách đã triển khai.

5.2. Vai trò của chính quyền địa phương và sự tham gia của cộng đồng

Thành công của công tác giảm nghèo không thể tách rời vai trò của chính quyền địa phương và sự tham gia chủ động của cộng đồng. UBND tỉnh đã ban hành hàng loạt văn bản chỉ đạo, cụ thể hóa chính sách của Trung ương cho phù hợp với thực tiễn. Đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo từ cấp xã được củng cố. Đặc biệt, việc phát huy vai trò của người có uy tín trong cộng đồng người Chăm, Khmer, các vị chức sắc tôn giáo (sư sãi, Imam) trong công tác tuyên truyền, vận động đã tạo được sự đồng thuận cao trong nhân dân. Người dân dần thay đổi nhận thức, tích cực tham gia vào các mô hình sản xuất, đóng góp ngày công xây dựng công trình công cộng, chủ động vươn lên thoát nghèo.

05/10/2025
Luận văn thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào chăm và khmer trên địa bàn tỉnh an giang

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 1. Một số khái niệm cơ bản Nghèo: Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được khám chữa bệnh, không có đất để sản xuất hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền và bị loại trừ, dễ bị bạo hành, phải sống trong các điều kiện rủi ro, không tiếp cận được nước sạch và công trình vệ sinh (theo tổ chức Liên hiệp quốc).

Đây là một khái niệm cơ bản nhất về nghèo có tính chất hướng dẫn về phương pháp đánh giá phổ biến về nghèo. Sự khác biệt, chênh lệch giữa điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội, trình độ phát triển của các vùng miền. Vấn đề quan trọng mà khái niệm này đưa ra đó chính là nhu cầu cơ bản của con người trong xã hội, nếu không được thỏa mãn thì họ là người nghèo. Dân tôc thiểu số: Là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi, lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Vùng dân tộc thiểu số: Là địa bàn có đông các DTTS sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Giảm nghèo bền vững: Là cụm từ được sử dụng khá phổ biến nhưng đến nay GNBV chưa có khái niệm cụ thể, tuy nhiên căn cứ vào một số Văn bản của Nhà nước ban hành có liên quan đến lĩnh vực giảm nghèo (Nghị quyết số 30a/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo; Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2010 của Chính phủ về Định hướng giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011 - 2020; Quyết định số 1489/QĐ-TTg ngày 8/10/2012 của TTCP phê duyệt chương trình giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012 - 2015…) thì GNBV được hiểu là giảm nghèo và phát triển bền vững, điều đó có nghĩa là tạo cơ hội cho người nghèo thoát nghèo ổn định và không ngừng tăng thu nhập để không bị tái nghèo khi có các tác động bất lợi của các yếu tố tự nhiên, xã hội. Việc giảm nghèo phải đảm bảo được sự phát triển bền vững trên tất cả các lĩnh vực KT, XH, môi trường, thỏa mãn các dịch vụ xã hội, 9 mức thu nhập cao hơn mức nghèo và không có nguy cơ tái nghèo trong thời gian dài. GNBV phản ánh thông qua các tiêu chí: Thỏa mãn các nhu cầu cơ bản Giảm nghèo Thu nhâp tăng và duy trì ở mức cao bền vững ̣ Thoát nghèo và không tái nghèo Chính sách giảm nghèo: Là tất cả các giải pháp, chính sách của Nhà nước và xã hội hay của chính đối tượng thuộc diện nghèo , nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư.

Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững: Là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của Nhà nước về chính sách giảm nghèo bền vững thành hiện thực đến với các đối tượng quản lý là các hộ nghèo nhằm đạt mục tiêu giảm nghèo bền vững, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách, chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư. Để chính sách thật sự mang lại hiệu quả thì khâu tổ chức thực hiện chính sách phải cơ bản đảm bảo đúng quy trình và tuần tự gồm các bước: Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách: Đây là công đoạn đầu tiên trong việc tổ chức thực hiện chính sách và ở bước này cần phải xác định cụ thể nội dung, nhiệm vụ trong tổ chức điều hành, nguồn lực, vật lực cho việc thực hiện chính sách, kế hoạch kiểm tra đôn đốc, thời gian thực thi chính sách. Phổ biến tuyên truyền chính sách: Trên cơ sở nắm vững nội dung, mục tiêu, nhiệm vụ, yêu cầu của chính sách người làm chính sách sẽ tổ chức tuyên truyền đến người dân, người thụ hưởng chính sách bằng nhiều hình thức khác nhau. Đây là hoạt động quan trọng, có vai trò gắn kết cơ quan nhà nước và các đối tượng thực hiện chính sách.

10 Phân công phối hợp thực hiện chính sách: Ở bước này cần xác định được năng lực chuyên môn cụ thể của các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia phối hợp thực hiện chính sách, việc phân công phối hợp phải được thực hiện một cách khoa học, hợp lý phát huy được các thế mạnh, tính tích cực, trách nhiệm của các cơ quan phối hợp, hạn chế trùng lắp trong thực hiện nhiệm vụ. Duy trì, điều chỉnh, theo dõi kiểm tra đôn đốc việc thực hiện chính sách: Duy trì thực hiện chinh sách là hoạt động nhằm đảm bảo cho chính sách được thực hiện và phát huy được tác dụng trong môi trường thực tế. Trong quá trình thực hiện chính sách còn tùy thuộc vào thực tiễn, đôi khi chính sách còn những bất cập chưa phù hợp sẽ có những điều chỉnh nhất định, nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu quản lý và phù hợp với tình hình thực tế đang đặt ra để chính sách được tiếp tục tồn tại và phát huy tác dụng. Việc theo dõi kiểm tra, đôn đốc giúp phòng ngừa, phát hiện các vấn đề liên quan đến công tác quản lý, tổ chức thực hiện, các vi phạm nếu có, để đề xuất các giải pháp chấn chỉnh phù hợp, góp phần hoàn thiện chính sách và nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách.

Đánh giá tổng kết rút kinh nghiệm: Đây là khâu được thực hiện trong từng giai đoạn thực hiện chính sách, hoặc cả một quá trình tổ chức thực hiện chính sách của chủ thể thực hiện chính sách; đồng thời đánh giá việc chấp hành, thực hiện của các đối tượng thụ hưởng (đôi tượng thụ hưởng trực tiếp và đối tượng gián tiếp) chính sách để từ đó rút kinh nghiệm, làm rõ các ưu điểm, nhược điểm trong tổ chức, phối hợp thực hiện chính sách. Các tiêu chí đo lường chuẩn nghèo đa chiều đang áp dụng Quan điểm mới tiếp cận về giảm nghèo ở nước ta xuất hiện khi bối cảnh kinh tế vĩ mô bắt đầu có những diễn biến bất thường vào cuối năm 2007, lạm phát tăng cao, khủng hoảng kinh tế kéo dài từ năm 2009. Trong khi đó những tác động, cảnh báo từ biến đổi khí hậu, rủi ro từ thiên nhiên, cũng ngày càng được đánh giá đúng với khả năng ảnh hưởng tới người nghèo và các mục tiêu giảm nghèo, bên cạnh đó còn diễn biến phức tạp của thiên tai, dịch bệnh…, dù muốn hay không đây cũng là những nhân tố mà chính sách giảm nghèo đang và sẽ phải tính đến nếu muốn đạt được kết quả GNBV. Chuẩn nghèo giai đoạn hiện nay đang áp dụng theo hướng kết 11 hợp cả chuẩn nghèo về thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản: Về thu nhập: 700.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 900.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị.

Về mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản gồm: Y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin. Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản gồm 10 chỉ số: tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin. Một số quan điểm của Đảng, Nhà nước về thực hiện chính sách giảm nghèo ở vùng DTTS hiện nay Cùng với các nỗ lực thực hiện các mục tiêu giảm nghèo, trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách giảm nghèo nói chung và các chính sách giảm nghèo hướng đến đồng bào DTTS nói riêng, nhằm phát huy nội lực trong cộng đồng người DTTS và tăng hiệu quả hỗ trợ từ bên ngoài, góp phần cải thiện đời sống của các hộ nghèo người DTTS trong phạm vi cả nước. Quan điểm trong Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986 - 2016) Nhìn lại chặng đường 30 năm đổi mới, Việt Nam với những quyết tâm cao, sự chỉ đạo quyết liệt của lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã đưa nước ta là một trong những nước nghèo nhất thế giới, trở thành nước có thu nhập trung bình vào năm 2009; đây là bước đánh dấu kết quả giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế đáng kể, hoàn thành hầu hết các mục tiêu phát triển thiên nhiên kỷ, trong đó có mục tiêu về GNBV.

Về thực hiện các mục tiêu giảm nghèo, Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán về chính sách GNBV đi đôi với khuyến khích làm giàu chính đáng và tự lực vươn lên. Đã đẩy mạnh việc triển khai thực hiện các nghị quyết của Chính phủ và Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, trong đó chú trọng chính sách giảm nghèo đa chiều và khắc phục nguy cơ tái nghèo, nhất là đối với các hộ nghèo, ưu tiên người nghèo là đồng bào DTTS thuộc huyện nghèo; thu hẹp chênh lệch về mức 12 sống và an sinh xã hội so với bình quân chung cả nước. Đã tiến hành điều chỉnh chuẩn nghèo theo từng thời kỳ phù hợp với điều kiện KT - XH của đất nước. Tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm bình quân 1,5-2% /năm; các huyên, xã đặc biệt khó khăn có tỷ lệ hộ nghèo giảm 4%/năm theo tiêu chuẩn nghèo từng giai đoạn.

Năm 1993 tỷ lệ hộ nghèo cả nước còn 58,1%, đến năm 2011 tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 9,5%, năm 2013 còn 7,8%, năm 2014 còn 5,8-6%, phấn đấu đến năm 2015 tỷ lệ hộ nghèo trong cả nước còn dưới 5%, trong vùng ĐBKK còn dưới 30%. Thành tựu về giảm nghèo của nước ta đã được Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế công nhận, đánh giá cao. Dù đã đạt được những thành tựu đáng kể về công tác giảm nghèo nhưng vẫn còn những tồn tại, thách thức về nhiều mặt: giảm nghèo chưa bền vững, tình trạng nghèo vẫn tập trung chủ yếu ở vùng nông thôn và DTTS. Chưa hình thành cơ chế đồng bộ về giảm nghèo đa chiều, đa mục tiêu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ