Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN HÓA ỨNG XỬ VÀ TỔNG QUAN VỀ HỌC VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC CHÍNH TRỊ 1. Những vấn đề chung về văn hóa ứng xử 1. Khái niệm văn hóa ứng xử 1. Khái niệm ứng xử Cùng với sự phát triển của đất nước, nhiều lĩnh vực đa dạng, phong phú của đời sống xã hội được quan tâm trong đó có chăm lo phát triển văn hóa.
Các vấn đề liên quan đến sự phát triển văn hóa của mỗi quốc gia, dân tộc đang ngày càng có vai trò quan trọng, thu hút nhiều học giả, nhà nghiên cứu tâm nghiên cứu, đề cập dưới các góc độ khác nhau. Một trong những lĩnh vực quan trọng, gắn liên với văn hóa đó là vấn đề giao tiếp, lối sống, ứng xử. Vì, ứng xử là phương thức cơ bản, quan trọng giúp con người gắn kết nhau hơn, củng cố, phát triển các mối quan hệ đa dạng, phong phú trong đời sống xã hội. Từ khi sinh ra tới khi mất đi, con người không thể tồn tại một cách độc lập như một cá thể riêng biệt mà luôn sống trong một môi trường, một hoàn cảnh, điều kiện nhất định.
Đó là các mối quan hệ trong gia đình, xã hội, trong một tổ chức cụ thể. Chính trong môi trường xã hội đa dạng, phong phú đó, con người luôn có nhu cầu trao đổi, nắm bắt thông tin, chia sẻ tình cảm, tác động, hỗ trợ lẫn nhau nhằm đảm bảo cho cuộc sống của mình, đáp ứng tốt hơn những nhu cầu cần thiết của cuộc sống. Đó là sự khác biệt giữa con người với các loài động vật không có khả năng tri giác, tình cảm. Như thế có thể thấy rằng, giao tiếp, ứng xử là một hoạt động cơ bản, quan trọng, một trong những nhu cầu cần thiết, gắn liền với sự tồn tại và phát triển của con người cũng như xã hội loài người.
Giao tiếp, ứng xử là hai thuật ngữ luôn song hành, đôi khi được đồng nhất và thực hiện mục đích chung của con người. Đó là việc trao đổi thông tin, chia sử tình cảm với nhau. Tuy nhiên, trong sự so sánh tương đối đó, hai thuật ngữ 9 này lại có sự khác nhau trong cấp độ biểu hiện của nó. Vấn đề ứng xử vì thế cũng đang được quan tâm nghiên cứu, đề cập tương đối rộng rãi với nhiều quan niệm khác nhau.
Theo Từ điển tiếng Việt, giao tiếp là “Trao đổi, tiếp xúc với nhau”. Ứng xử là “Có thái độ, hành động, lời nói như thế nào đó trong một tình huống giao tiếp nhất định”. Như vậy, giao tiếp là sự trao đổi, truyền đạt thông tin giữa người với người thông qua một phương tiện cụ thể với một mục đích nhất định. Còn ứng xử là cách xử sự, đối xử, xử lý một vấn đề gì đó cho thích hợp, phù hợp trước một tình huống, sự việc cụ thể.
Xét trên cấp độ biểu hiện và mức độ của hành vi, ứng xử được nhìn nhận cao hơn so với giao tiếp. Ứng xử là sự phản ứng của con người đối với sự tác động của người khác đến mình trong một tình huống cụ thể nhất định. Nó thể hiện ở chỗ con người không những chủ động trong giao tiếp mà còn chủ động trong phản ứng có sự lựa chọn, có tính toán, thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng – tùy thuộc vào tri thức, kinh nghiệm và nhân cách của mỗi người nhằm đạt kết quả giao tiếp cao nhất. Như vậy, trong giao tiếp, người ta chú ý đến nội dung công việc, mục đích sẽ đạt được và thước đo của giao tiếp là hiệu quả công việc.
Còn trong ứng xử, người ta quan tâm đến thái độ của cá nhân, sự biểu hiện của cá nhân thông qua lời nói, hành vi, cử chỉ, điệu bộ và thước đo của ứng xử là nghệ thuật biểu hiện qua giao tiếp. Tuy nhiên, sự phân biệt này chỉ mang tính chất tương đối. Giao tiếp và ứng xử là hai khái niệm có quan hệ hữu cơ, gắn bó chặt chẽ với nhau. Giao tiếp là tiền đề, điều kiện của ứng xử, ứng xử là hành động phản hồi trong giao tiếp.
Chúng tác động qua lại lẫn nhau, bổ sung cho nhau và đôi khi đồng nhất là một. Giao tiếp, ứng xử luôn hiện hữu trong cuộc sống của con người ở mọi cấp độ, phương diện khác nhau: có những hành vi giao tiếp, ứng xử tốt, đúng mực, 10 phong cách giao tiếp ứng xử dân chủ, tự do nhưng cũng không ít hành vi giao tiếp ứng xử chưa tốt, những phong cách ứng xử độc đoán… Ở đây, chúng tôi đề cập đến khái niệm “ứng xử” nhằm nhấn mạnh đến cách sống, cách đối nhân xử thế, cách cư xử, thái độ và hành vi của từng cá nhân và một nhóm trong xã hội cụ thể (cán bộ, giảng viên, nhân viên,…) trong một môi trường cụ thể (Trường Đại học Chính trị, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội,…) với các mối quan hệ đa chiều nhằm định hướng, xây dựng những khuôn mẫu trong hành vi giao tiếp, ứng xử cho phù hợp. Trong mỗi tình huống khác nhau, trong từng trường hợp cụ thể, con người sẽ có “sự ứng phó, đối xử lại” nhằm “đáp trả tức thời”, thể hiện vai trò xã hội của cá nhân trong các mối quan hệ xã hội nhất định. Sự ứng phó này chịu sự chi phối của rất nhiều yếu tố như: vai trò xã hội, quan hệ xã hội, điều kiện môi trường tự nhiên và xã hội… nhất là sự chi phối của những quy tắc, chuẩn mực xã hội nhất định.
Trong đó, các chuẩn mực xã hội do các giá trị văn hóa tạo nên, nó điều hòa các mối quan hệ, ứng xử theo một cách thức nhất định. Khi nghiên cứu về ứng xử, dưới các góc độ tiếp cận khác nhau, các nhà khoa học lại đưa ra những khái niệm khác nhau. Chẳng hạn, dưới góc độ sinh học, các nhà sinh học cho rằng, ứng xử có nghĩa là “toàn thể những phản ứng thích nghi có thể quan sát kết quả mà một cơ thể có một hệ thống thần kinh thực hiện để đáp trả lại những kích thích… Điều đáng chú ý là những phản ứng ấy (những ứng xử, xử lý để đáp ứng) được diễn ra theo cách tương đối ổn định”. Dưới góc độ xã hội học văn hóa, các nhà văn hóa học cho rằng, ứng xử được dùng để chỉ những cách hành động hay cách diễn đạt bằng ngôn từ như thế nào đó của một vai trò này đối với một vài trò khác (ví dụ như cha/con; vợ/chồng; cấp trên/cấp dưới…) và đó chính là những hành động hoặc gọi là phản ứng theo một cách tương đối tốt.
Ứng xử không chỉ giới hạn ở giữa các vai trò xã hội với nhau mà còn ứng xử với bản thân mình, ứng xử với đồ vật, ứng xử với tự nhiên. Các ngành nghiên cứu tâm lý, từ góc độ tâm lý học, lại chủ yếu khai thác khái 11 niệm ứng xử ở khía cạnh các quan hệ giao tiếp. Xuất phát từ vỏ ngôn ngữ, họ cho rằng, ứng xử là một từ ghép bởi hai từ “ứng” và “xử”, mà “ứng” và “xử” lại bao gồm nhiều nghĩa khác nhau như: ứng phó, ứng đáp, ứng biến và xử sự, xử thế. Trên cơ sở đó, ứng xử được gọi là cách xử thế nhằm ứng phó với một đối tượng nào đó trong mối quan hệ giao tiếp, trong thực tiễn tâm lý cũng như trong thực tiễn xã hội.
Trong thực tiễn tâm lý cũng như trong thực tiễn xã hội, ứng xử được thể hiện trong một tình huống giao tiếp cụ thể, ứng xử chủ động trong giao tiếp, không chủ động tạo ra hành động, nhưng chủ động trong thái độ, phản ánh trước những thái độ, hành vi, cử chỉ của người khác trong một tình huống cụ thể nào đó. Như vậy, có thể thấy rằng, dưới các gó độ nghiên cứu khác nhau, khái niệm ứng xử lại được sử dụng với những nội dung khác nhau. Trong luận văn, tác giả sử dụng khái niệm ứng xử trong thực tiễn tâm lý cũng như trong thực tiễn xã hội để nghiên cứu văn hóa ứng xử của học viên Trường Đại học Chính trị. Khái niệm văn hóa ứng xử Vấn đề khái niệm văn hóa đã có rất nhiều công trình khoa học của các tác giả trong và ngoài nước đề cập với nhiều định nghĩa được đưa ra.
Trong luận văn này, tác giả không đề cập đến khái niệm văn hóa mà sử dụng khái niệm văn hóa do Tổ chức Văn hóa, Khoa học, Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) đưa ra. Là một bộ phận của văn hóa, vấn đề văn hóa ứng xử hiện nay đang được xã hội quan tâm, được nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu, đề cập một cách tương đối rộng rãi, có thể trực tiếp hoặc gián tiếp, qua các đề tài, chuyên đề, các cuộc hội thảo cũng như trên các phương tiện thông tin đại chúng. 12 Trong cuốn “Cơ sở văn hóa Việt Nam” phục vụ cho chương trình đào tạo đại học đại cương, GS. Viện sĩ Trần Ngọc Thêm, mặc dù không đưa ra một định nghĩa cụ thể về văn hóa ứng xử, nhưng tác giả đã xác định nội hàm của vấn đề này: đó là thái độ của cộng đồng với hai loại môi trường, là môi trường tự nhiên và môi trường xã hội.
Hay nói cách khác, ứng xử chính là việc con người ứng phó và tận dụng môi trường tự nhiên (khí hậu, địa lý…) và môi trường xã hội (tổ chức lối sống cá nhân và cộng đồng, giao lưu, tiếp biến…) để phục vụ cho cuộc sống của mình. Các cộng đồng chủ thể trong văn hóa tồn tại trong quan hệ với hai loại môi trường: môi trường tự nhiên (thiên nhiên, khí hậu…) và môi trường xã hội (các dân tộc, quốc gia, láng giềng…). Với mỗi loại môi trường đều có cách thức xử thế phù hợp là: tận dụng môi trường (tác động tích cực) và ứng phó với môi trường (tác động tiêu cực). Tác giả Nguyễn Việt Chức trong công trình khoa học “Văn hóa ứng xử của người Hà Nội với môi trường thiên nhiên”, đã chỉ ra nội hàm khái niệm văn hóa ứng xử tương đối đầy đủ.
Văn hóa ứng xử được tác giả đề cập bao gồm các vấn đề: cách thức quan hệ, thái độ và hành động của con người đối với môi trường thiên nhiên, đối với xã hội và đối với người khác. Văn hóa ứng xử bao gồm các hình thức quan hệ, thái độ và hành động của con người đối với con người, đối với môi trường thiên nhiên và đối với xã hội.