Chương 1 : Cơ sở lý luận về ứng dụng công nghệ tài chính ( Fintech ) đối với thị trường chứng khoán. Trình bày các khái niệm , đặc điểm. phạm vi , hình thức và tác động của Fintech đến thị trường tài chính. Chương 2 : Thực trạng ứng dụng công nghệ tài chính Fintech trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Quản lý của nhà nước về Fintech và triển vọng của Fintech đối với thị trường chứng khoán. Chương 3 : Một số khuyến nghị chính sách cho việc áp dụng công nghệ tài chính ( Fintech ) trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Các nhóm khuyến nghị dựa trên cơ sở nền tảng tổng quan chung về Fintech trên thị trường chứng khoán. 7 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ TÀI CHÍNH (FINTECH) ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 1 Các vấn đề cơ bản về công nghệ tài chính (Fintech) 1.1 Một số khái niệm trong lĩnh vực Fintech 1.1 Công nghệ tài chính (Fintech) “Fintech” tên đầy đủ là “Financial Technology” hay còn được gọi là “công nghệ tài chính” là một thuật ngữ không quá lạ lẫm với các quốc gia trên thế giới nhưng đối với Việt Nam thì khái niệm này còn khá chung chung và chưa được nhiều người biết đến.
Xét về định nghĩa của Fintech thì có khá nhiều như sau : Tổng cục an ninh liên bang Nga (FSB) đã định nghĩa FinTech là sự đổi mới của lĩnh vực công nghệ trong các dịch vụ tài chính có thể tạo ra các mô hình kinh doanh mới, những ứng dụng, quy trình hoặc sản phẩm mới có ảnh hưởng quan trọng đến việc cung cấp dịch vụ tài chính. Ernst & Young (EY), một hãng dịch vụ kiểm toán chuyên nghiệp đa quốc gia, đã đưa ra định nghĩa bao quát hơn về Fintech đó là “những tổ chức trên thế giới kết hợp các mô hình kinh doanh và công nghệ hết sức tiên tiến để cho phép, tăng cường và phá vỡ các dịch vụ tài chính”, hàm ý nhấn mạnh rằng Fintech không chỉ nói đến các công ty mới khởi nghiệp và những công ty mới gia nhập thị trường, mà còn là việc mở rộng quy mô, các công ty đang tăng trưởng và thậm chí các công ty dịch vụ phi tài chính. KPMG, một trong những nhà cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp lớn nhất thế giới và là một trong Big Four ngành kiểm toán, xem Fintech như là một thuật ngữ về tài chính và công nghệ, thuật ngữ này ám chỉ đến các doanh nghiệp đang tận dụng công nghệ để hoạt động bên ngoài các mô hình kinh doanh dịch vụ tài chính truyền thống để thay đổi phương thức cung cấp dịch vụ tài chính truyền thống. Fintech cũng bao gồm các công ty sử dụng công nghệ để cải thiện lợi thế cạnh tranh của các công ty dịch vụ tài chính truyền thống cũng như các chức năng và hành vi tài chính của người tiêu dùng và doanh nghiệp.
8 Fintech xuất hiện trong kỷ nguyên bắt đầu của toàn cầu hóa tài chính. Có thể phân thành các giai đoạn như sau: Fintech 1.0 (1866-1967) Đây là kỷ nguyên bắt đầu của toàn cầu hóa tài chính. Giai đoạn này đánh dấu lần đầu tiên thông tin tài chính được truyền tải qua biên giới một cách nhanh chóng. Các dấu mốc quan trọng của giai đoạn này bao gồm cáp xuyên Đại Tây Dương đầu tiên (1866), Fedwire ở Mỹ (1918), hệ thống chuyển tiền điện tử đầu tiên dựa trên công nghệ hiện đại như điện báo hoặc mã Morse.
Những năm của thập niên 50 đánh dấu sự ra đời của thẻ tín dụng.0 (1987-2008) (Kỷ nguyên của ngân hàng) Giai đoạn này đánh dấu sự dịch chuyển từ tín hiệu analog sang kỹ thuật số. Năm 1967, máy tính cầm tay đầu tiên và ATM đầu tiên được ra đời. Những năm 70 đánh dấu sự ra đời của NASDAQ, sở giao dịch chứng khoán kỹ thuật số đầu tiên, và mã SWIFT. Những năm 80, ngân hàng trực tuyến (online banking) được ra đời, phát triển mạnh mẽ vào những năm 90 khi Internet và các mô hình thương mại điện tử nở rộ.
Ngân hàng trực tuyến đã tạo ra thay đổi lớn đến cách người dân nhận thức về tiền và mối quan hệ với các tổ chức tài chính. Đến những năm đầu của thế kỷ 21, các quy trình nội bộ, tương tác với khách hàng và đối tác của ngân hàng đã hoàn toàn được kỹ thuật số.0 (2008-2020) (Kỷ nguyên của Start-ups) Khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã ảnh hưởng trầm trọng đến uy tín của ngân hàng. Điều này đã mở đường cho kỷ nguyên Fintech 3. Giai đoạn này đánh dấu sự xuất hiện của nhiều chủ thể mới trên thị trường.1 ra đời gây chấn động lớn với thị trường tài chính thế giới và mở đường cho hàng loạt các loại tiền ảo khác.
Bên cạnh đó, sự tăng trưởng nhanh chóng của điện thoại thông minh (smartphones) cũng khiến Internet phổ cập đến hàng triệu người dùng trên toàn cầu. Smartphone trở thành phương tiện chủ yếu để người dùng truy cập Internet và sử dụng các dịch vụ tài chính khác.5 (Từ 2020-tương lai) Áp dụng cho các thị trường mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ, khi cơ sở hạ tầng hệ thống ngân hàng truyền thống chưa thể phát triển 9 được như các nước phương Tây, khiến các quốc gia này cởi mở hơn trong việc tiếp cận các công nghệ mới.1 Các lĩnh vực của fintech Nguồn: belvoircapital. Công nghệ chuỗi khối (Blockchain) Blockchain là công nghệ chuỗi – khối, cho phép truyền tải dữ liệu một cách an toàn dựa trên hệ thống mã hóa vô cùng phức tạp, tương tự như cuốn sổ cái kế toán của một công ty, nơi mà tiền được giám sát chặt chẽ và ghi nhận mọi giao dịch trên mạng ngang hàng. Mỗi khối (block) đều chứa thông tin về thời gian khởi tạo và được liên kết với khối trước đó, kèm theo đó là một mã thời gian và dữ liệu giao dịch.
Dữ liệu khi đã được mạng lưới chấp nhận thì sẽ không có cách nào thay đổi được. Blockchain được thiết kế để chống lại việc gian lận, thay đổi của dữ liệu. Công nghệ blockchain lần đầu được giới thiệu bởi Nakamoto (2008) và được như là cốt lõi trong giao dịch tiền điện tử Bitcoin. Tuy nhiên hiện nay công nghệ này đã và đang được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó khá phổ biến là hoạt động thanh toán trong tài chính – ngân hàng.
Về mặt kỹ thuật, từ “blockchain” nghĩa là “chuỗi khối”, trong đó mỗi khối gồm thông tin về một số lượng giao dịch cụ thể và được bổ sung thường xuyên vào hệ thống cơ sở dữ liệu sau khi được thông qua bởi các máy tính trong cùng hệ thống và tham chiếu với “khối thông tin” trước đó, từ đó tạo ra “chuỗi thông tin” (Fico, 2016). Bản sao của chuỗi khối được cập nhật và lưu trữ vào máy tính của các thành viên trong mạng lưới, do đó rất khó để một thành viên riêng lẻ nào đó có thể thay đổi hoặc điều chỉnh bất cứ chi tiết nào trong 10 lịch sử giao dịch. Vì vậy, công nghệ này có thể ngăn ngừa sự điều chỉnh các thông tin từ một cá nhân riêng lẻ trong hệ thống. Blockchain được xem như một “sổ cái”, cho phép các thành viên tham gia đều có thể biết về quyền sở hữu tài sản theo thời gian thực tế vì mỗi thành viên đều có quyền truy cập vào trung tâm đăng ký nơi mà bất cứ sự thay đổi nào về quyền sở hữu tài sản đều được cập nhật, lưu trữ và chia sẻ.
Ngoài ra, “sổ cái” này quy chiếu mỗi giao dịch đến một ký hiệu nhận dạng công cộng bằng một mã công cộng nhưng các giao dịch này không được truy vấn ngược lại đến từng cá nhân hoặc tổ chức cụ thể bởi bất cứ bên nào khác ngoài chính chủ nhân của ký hiệu nhận dạng đó bằng cách sử dụng một mã cá nhân (Cuccuro, 2017). Do vậy, công nghệ này vừa mang đến tính minh bạch thông tin cho các thành viên trong mạng lưới vì họ luôn biết được lịch sử giao dịch và sở hữu tài sản của các đối tác nhưng đồng thời cũng mang lại sự an toàn trong giao dịch do sự mã hoá bằng các mã công cộng và mã cá nhân. Bên cạnh đó, các thành viên tham gia giao dịch không cần đến sự có mặt của bên thứ ba, hay còn gọi là trung gian, để cung cấp thông tin cho họ (chẳng hạn như ngân hàng, kiểm toán viên hoặc trung tâm thanh toán bù trừ). Các chuỗi khối có thể dựa trên mạng lưới công cộng hoặc mạng lưới riêng (FINRA, 2017).
Mạng lưới công cộng là một mạng lưới mở cho phép bất cứ ai cũng có thể tham gia nếu muốn. Mạng lưới này dựa trên chính các thành viên tham gia để ghi nhận và kiểm tra theo một giao thức nhất định. Ngược lại, mạng lưới riêng là mạng lưới được cấp phép hay nói cách khác những bên nào được tin cậy thì mới có quyền tham gia. Trong mạng lưới này, những thành viên khác nhau sẽ có cấp độ giao dịch và xem dữ liệu khác nhau.
Một khía cạnh khác của công nghệ blockchain là nó thúc đẩy việc sử dụng các hợp đồng thông minh, tức là các hợp đồng trên máy tính thực thi tự động, không cần đến sự can thiệp của con người. Cụ thể hơn, các hợp đồng được tự thực hiện theo một chuỗi thường xuyên và đều đặn (chẳng hạn như việc thanh toán lãi trái phiếu định kỳ) mà không cần đến sự can thiệp trung gian (như ngân hàng hoặc các trung tâm thanh toán). Gọi vốn cộng đồng (Crowdfunding) 11 Gọi vốn cộng đồng (crowdfunding) là một kênh tài chính tiềm năng, giúp các doanh nghiệp, nhất là những startup “rao bán trước” một sản phẩm hoặc dịch vụ sắp được triển khai mà không phát sinh nợ hoặc hy sinh vốn chủ sở hữu hay cổ phần. Gọi vốn cộng đồng là việc tập hợp các khoản vốn nhỏ từ số lượng lớn các cá nhân đơn lẻ để tài trợ cho một doanh nghiệp mới.
Gọi vốn cộng đồng tận dụng khả năng tiếp cận lượng lớn người dùng thông qua mạng xã hội và các trang web gọi vốn để đưa các nhà đầu tư và doanh nhân đến với nhau. Phương pháp này làm tăng năng lực kinh doanh bằng cách mở rộng số lượng nhà đầu tư, vượt qua phạm vi truyền thống bao gồm các chủ sở hữu, người thân và các nhà đầu tư mạo hiểm. Hầu hết các nơi đều có các hạn chế về những ai có thể tài trợ cho một doanh nghiệp mới và số tiền họ được phép đóng góp.