CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN DOANH THU, CHI PHÍ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH LỮ HÀNH TRONG DOANH NGHIỆP KINH DOANH DU LỊCH 1. Khái niệm và đặc điểm hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch 1.1 Khái niệm dịch vụ du lịch Hoạt động du lịch đã xuất hiện rất sớm trong lịch sử xã hội loài người và ngày càng phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Ban đầu, đó chỉ là hoạt động mang tính tự phát của một nhóm người ở thời kì cổ đại. Sau đó, khi nền kinh tế - xã hội ở các nước châu Âu phát triển, các lĩnh vực như thông tin, giao thông vận tải và du lịch cũng theo đó phát triển hơn.
Đến nay, ngành du lịch đã thực sự đóng một vị trí không nhỏ trong sự phát triển chung của toàn xã hội. Mặc dù có một lịch sử hình thành và phát triển lâu dài, tuy nhiên, hiện nay, vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm “du lịch”. Định nghĩa của Đại học Kinh tế Praha (Cộng hòa Séc): “Du lịch là tập hợp các hoạt động kỹ thuật, kinh tế và tổ chức liên quan đến cuộc hành trình của con người và việc lưu trú của họ ngoài nơi ở thường xuyên với nhiều mục đích khác nhau, loại trừ mục đích hành nghề và thăm viếng có tổ chức thường kỳ” [22]. Ông Michael Coltman (Mỹ) cho rằng: “Du lịch là sự kết hợp và tương tác của bốn nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du khách bao gồm: du khách, nhà cung ứng dịch vụ du lịch, cư dân sở tại và chính quyền địa phương nơi đón khách du lịch” [20].
Tổ chức Du lịch Thế giới định nghĩa: “Du lịch bao gồm tất cả các hoạt động của một cá nhân đi đến và lưu trú tại những điểm ngoài nơi ở thường xuyên của họ trong thời gian không dài hơn một năm với mục đích nghỉ ngơi, công vụ và mục đích khác” [29]. Ở Việt Nam, theo Luật Du lịch năm 2005, “du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm 7 đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”[21]. Có thể thấy mỗi quan điểm về du lịch đang đứng trên một góc độ riêng, song, một cách chung nhất, chúng ta có thể hiểu du lịch là hoạt động liên quan đến một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức đi ra khỏi nơi cư trú thường xuyên của họ bằng các cuộc hành trình (gọi là chuyến đi) ngắn ngày hoặc dài ngày lưu trú ở một nơi khác với mục đích tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng hay mục đích khác. “Dịch vụ du lịch là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn và những dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch”.2 Khái niệm dịch vụ du lịch lữ hành và phân loại hoạt động kinh doanh lữ hành 1.1 Khái niệm dịch vụ du lịch lữ hành Lữ hành được hiểu một cách chung nhất đó là sự đi lại di chuyển của con người từ nơi này sang nơi khác.
Với cách hiểu này, hoạt động du lịch sẽ bao gồm yếu tố lữ hành, nhưng không phải tất cả hoạt động lữ hành là du lịch. Xét trong phạm vi ngành du lịch, kinh doanh dịch vụ du lịch (DVDL) lữ hành là hoạt động kinh doanh gồm một hay nhiều công việc trong quá trình tạo ra và chuyển giao DVDL từ nhà cung ứng DVDL tới khách du lịch với mục đích lợi nhuận, hưởng hoa hồng. Theo Điều 4 Luật Du lịch Việt Nam năm 2005, “lữ hành là việc xây dựng, bán, tổ chức thực hiện một phần hoặc toàn bộ chương trình du lịch cho khách du lịch”. [21] Qua đó cho thấy khái niệm “lữ hành” theo Luật Du lịch Việt Nam đã mang nghĩa hẹp hơn, nó xác định luôn sản phẩm của hoạt động DVDL lữ hành là chương trình du lịch.
Cũng trong Luật Du lịch Việt Nam 2015, chương trình du lịch được giải thích là lịch trình, các dịch vụ và giá bán chương trình được định trước cho chuyến đi của khách du lịch từ nơi xuất phát đến điểm kết thúc chuyến đi. Trong khi đó, theo Giáo trình Quản trị kinh doanh lữ hành – chủ biên: Nguyễn Văn Mạnh và 8 Phạm Hồng Chương, “chương trình du lịch là một tập hợp các dịch vụ, hàng hóa được sắp đặt trước, liên kết với nhau, để thỏa mãn ít nhất hai nhu cầu khác nhau trong quá trình tiêu dùng du lịch của khách với mức giá gộp xác định trước và bán trước khi tiêu dùng của khách” [22]. Trên cơ sở kế thừa các cách hiểu này, có thể khái quát chung về chương trình du lịch như sau: “Chương trình du lịch là một dịch vụ tổng hợp, được tạo nên từ sự liên kết mang tính trọn vẹn giữa các hoạt động du lịch riêng lẻ của các nhà cung cấp khác nhau để thỏa mãn các nhu cầu khác nhau của khách du lịch.” Hoạt động kinh doanh chương trình du lịch bao gồm bốn nội dung: nghiên cứu thị trường và thiết kế các chương trình du lịch, quảng cáo và tổ chức bán chương trình, tổ chức thực hiện chương trình du lịch theo hợp đồng đã kí kết và thanh quyết toán hợp đồng, rút kinh nghiệm về việc thực hiện hợp đồng tiếp theo.2 Phân loại hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch lữ hành Căn cứ vào tính chất của hoạt động để tạo ra sản phẩm, hoạt động kinh doanh du lịch lữ hành bao gồm: Kinh doanh đại lý lữ hành, kinh doanh chương trình du lịch và kinh doanh lữ hành tổng hợp. Kinh doanh đại lý lữ hành: đại lý lữ hành đóng vai trò làm trung gian giới thiệu, tiêu thụ sản phẩm của các nhà cung cấp sản phẩm du lịch liên quan như khách sạn, vận tải, hàng không… cho các khách du lịch để hưởng hoa hồng theo hợp đồng đại lý với công ty du lịch.
Bên đại lý không được tổ chức thực hiện chương trình du lịch mà chỉ nhận các dịch vụ đơn lẻ, không có sự gắn kết với nhau và phục vụ nhu cầu riêng của từng đối tượng khách hàng. Nói một cách đơn giản, kinh doanh đại lý lữ hành được hiểu đơn giản đó là việc sắp đặt và cung ứng các dịch vụ của nhiều nhà cung cấp khác nhau một cách đơn lẻ hoặc kết hợp nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch để hưởng hoa hồng. Kinh doanh chương trình du lịch là liên kết các sản phẩm đơn lẻ như dịch vụ khách sạn, vé máy bay, tàu xe… của các nhà cung cấp độc lập thành một sản phẩm du lịch xuyên suốt và hoàn chỉnh. 9 Kinh doanh lữ hành tổng hợp là sự kết hợp đồng thời cả hai loại hình này với nhau một cách linh hoạt trong từng trường hợp cụ thể.
Đây là hoạt động vừa mang tính sản xuất trực tiếp từng loại dịch vụ vừa kết hợp các dịch vụ thành sản phẩm mang tính nguyên chiếc, vừa bán buôn vừa bán lẻ. Đây chính là kết quả của quá trình liên kết, hợp tác từ nhiều chủ thể kinh doanh du lịch với nhau. Căn cứ vào phương thức hoạt động, hoạt động kinh doanh du lịch lữ hành bao gồm: Kinh doanh lữ hành gửi khách, kinh doanh lữ hành nhận khách và kinh doanh lữ hành kết hợp. Kinh doanh lữ hành gửi khách: thu hút khách du lịch một cách trực tiếp và đưa khách đến điểm du lịch.
Loại hình này phù hợp với những nơi có cầu du lịch lớn. Kinh doanh lữ hành nhận khách: xây dựng chương trình du lịch, quan hệ hợp tác với các công ty lữ hành gửi khách để bán và tổ chức các chương trình du lịch này. Loại hình kinh doanh này thích hợp với những nơi có tài nguyên du lịch nổi tiếng. Sự kết hợp giữa hai loại hình này được gọi chung đó là kinh doanh lữ hành kết hợp.
Loại hình kinh doanh này phù hợp với các doanh nghiệp lữ hành có quy mô lớn, đủ nguồn lực để thực hiện cả hoạt động gửi và nhận khách. Căn cứ phạm vi địa lý hoạt động, hoạt động kinh doanh du lịch lữ hành bao gồm: Kinh doanh lữ hành nội địa và kinh doanh lữ hành quốc tế. Kinh doanh lữ hành nội địa gắn với phạm vi hoạt động du lịch chỉ diễn ra trên lãnh thổ một quốc gia, còn kinh doanh lữ hành quốc tế có hai hướng đó là nhận khách du lịch quốc tế vào trong nước và đưa khách ở trong nước đi ra nước ngoài du lịch. - Dịch vụ lữ hành nhận khách du lịch quốc tế vào trong nước (tour inbound: khách du lịch mang quốc tịch nước ngoài đi du lịch trong nước).
- Dịch vụ lữ hành đưa khách ở trong nước đi nước ngoài du lịch (tour outbound: khách du lịch mang quốc tịch Việt Nam đi du lịch nước ngoài).3 Đặc điểm hoạt động kinh doanh lữ hành và những ảnh hưởng đến công tác kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh lữ hành trong doanh nghiệp kinh doanh du lịch Kinh doanh DVDL lữ hành là một loại hình kinh doanh đặc biệt từ quá trình xây dựng, bán và tổ chức thực hiện các chương trình du lịch trọn gói cho khách du lịch; từ đó ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh DVDL lữ hành ở các điểm sau: Thứ nhất, quá trình cung cấp và sử dụng DVDL lữ hành diễn ra đồng thời và theo một quá trình, trong một thời gian, địa điểm nhất định Quá trình thực hiện luôn có sự tham gia của đơn vị cung cấp DVDL và khách du lịch. Đây được xem là điểm khác biệt cơ bản với các hoạt động sản xuất sản phẩm thông thường. Ngoài ra, cũng do tính đồng thời của việc sản xuất và tiêu dùng DVDL, đơn vị cung ứng không thể kiểm tra được chất lượng của DVDL trước khi cung cấp cho khách du lịch. Các đơn vị cung cấp loại hình sản phẩm này phải xây dựng được các chuẩn mực và quản lý tốt việc thực hiện chúng nhằm đạt được chất lượng dịch vụ tốt nhất.
Quá trình sản xuất và tiêu dùng DVDL lữ hành diễn ra trong cùng một thời gian. Vì thế, các đơn vị kinh doanh lữ hành chỉ tiến hành phục vụ khách du lịch khi có sự tham gia của khách trong quá trình phục vụ và có thể xem khách du lịch là yếu tố “nguyên liệu đầu vào” trong quá trình kinh doanh ấy. Quá trình sản xuất và tiêu dùng DVDL lữ hành diễn ra trong cùng một không gian.