Chương 1: TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XXI VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA DẠ NGÂN, ĐOÀN LÊ 1. Tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI Từ sau năm 1986, đặc biệt là từ đầu thế kỷ XXI, tiểu thuyết Việt Nam đã có sự chuyển mình mạnh mẽ. Tiểu thuyết Việt Nam đã nhanh chóng khoác lên mình một diện mạo mới, mới mẻ về tư duy sáng tác, cách nhìn, lối viết. Và có lẽ, chưa bao giờ thể loại tiểu thuyết có lực lượng sáng tác đông đảo như thế, chưa bao giờ có số lượng tác phẩm ra đời nhiều đến vậy.
Đội ngũ sáng tác tiểu thuyết cũng rất đa dạng. Có những nhà văn nam luôn xông xáo, có những nhà văn nữ có sức viết dồi dào, có những nhà văn đã lớn tuổi và có cả những nhà văn mới bước vào nghề. Có những tác phẩm vừa mới in còn chưa ráo mực đã đạt giải thưởng cao, được công chúng đón nhận và yêu mến; có những tác phẩm gây nên chú ý của dư luận, tạo nên những xôn xao, bàn luận sôi nổi. Là thể loại xuất hiện khá muộn ở Việt Nam, đến đầu thế kỷ XX văn học nước ta mới có những tiểu thuyết với đầy đủ tính chất của thể loại hiện đại.
Trong những năm kháng chiến (1945 - 1975) tiểu thuyết bội thu về số lượng. Tuy nhiên ở giai đoạn này, tiểu thuyết chỉ chủ yếu xoay quanh câu chuyện về lịch sử, mang đậm tính sử thi và dựa trên mô thức trần thuật đại sự. Từ 1975 đến 1985, nhiều nhà văn đã tìm tòi lối đi cho tiểu thuyết, có nỗ lực đổi mới tiểu thuyết. Một loạt những tác phẩm đã khởi động, tạo nền tảng cho sự vận hành với tốc độ nhanh chóng cho giai đoạn sau này.
Sau năm 1986, tiểu thuyết có những bứt phá. Đại hội lần thứ VI của Đảng (năm 1986) kêu gọi đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào sự thật đã tạo cơ sở tư tưởng cho xu hướng dân chủ hóa trong văn học được khơi dòng và phát triển mạnh mẽ. Dân chủ hóa đã thấm sâu và được thể hiện ở nhiều cấp độ và bình diện của đời sống văn c 10 học. Trên bình diện ý thức nghệ thuật đã có những biến đổi quan trọng theo hướng dân chủ hóa của các quan niệm về vai trò, vị trí và chức năng của văn học, của nhà văn và về hiện thực.
Chính điều đó đã tạo một bầu không khí dân chủ, tạo môi trường thuận lợi cho tiểu thuyết đổi mới và phát triển. Sang thế kỷ XXI, trước yêu cầu khách quan cũng như sự vận động nội tại, đòi hỏi tiểu thuyết Việt Nam cần có sự đổi mới. Những điều kiện thuận lợi có được từ sau năm 1986 khiến đời sống xã hội, văn học tiếp tục thay đổi. Đặc biệt, xu hướng toàn cầu hóa đã tách dần con người cá nhân khỏi cộng đồng, buộc cá nhân phải trở thành những chủ thể độc lập.
Sự bùng nổ công nghệ thông tin làm cho con đường của tác phẩm đến với bạn đọc được rút ngắn. Sự phát triển của thời đại công nghệ thông tin cũng làm thay đổi nhu cầu thị hiếu bạn đọc. Và khi mạng xã hội phát triển nhanh chóng mọi khoảng cách giữa con người với con người thực sự chỉ như những vách tường phiên liếp mỏng, con người có nhu cầu được bộc lộ mình, muốn tìm hiểu khám phá cuộc sống, con người. Điều đó khiến cả nhà văn lẫn bạn đọc đều có khao khát tìm tòi, khám phá, thể hiện con người của mình, hiểu biết về cuộc sống xung quanh nhiều hơn; muốn hiểu sâu hơn, biết rộng hơn về con người, cuộc đời.
Khám phá, hiểu biết về con người, về cuộc sống để hiểu chính mình. Chính điều đó đã trở thành động lực thúc đẩy văn học nói chung, tiểu thuyết nói riêng đổi mới. Có thể thấy rằng, sự thay đổi với tốc độ chóng mặt của thế kỷ XXI là thách thức và cũng là động lực thúc đẩy tiểu thuyết cần có những đổi mới trên mọi phương diện để đáp ứng nhu cầu của thời đại mới, để có thể có chỗ đứng trên văn đàn và trong lòng độc giả. Diện mạo chung Bakhtin nhận định: “Tiểu thuyết là thể loại văn chương duy nhất đang biến chuyển và chưa định hình (…) Nòng cốt thể loại của tiểu thuyết chưa hề rắn lại và chúng ta chưa thể dự đoán được hết những khả năng uyển chuyển của nó”.
Bakhtin cũng cho rằng: “Đó là thể loại duy nhất nảy sinh c 11 và được nuôi dưỡng bởi thời đại mới của lịch sử thế giới và vì thế mà thân thuộc sâu sắc với thời đại ấy, trong khi đó thì các thể loại lớn khác chỉ được thời đại mới kế thừa ở dạng đã hoàn tất (…) do đó nó phản ánh sâu sắc hơn, cơ bản hơn, nhạy bén hơn bản thân hiện thực. Chỉ kẻ biến đổi mới hiểu được sự biến đổi”. Là thể loại năng động, cùng với những điều kiện thuận lợi, tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI thực sự đang bước vào cao trào đổi mới. Chỉ trong khoảng hai mươi, tiểu thuyết Việt Nam đã có những vận động và biến đổi từ tư duy nghệ thuật đến hình thức, nội dung và đạt được những thành tựu đáng kể.
Trước hết, đó là sự đổi mới trong tư duy nghệ thuật. Theo quan niệm truyền thống, tiểu thuyết là những tác phẩm tự sự được viết bằng văn xuôi, phản ánh một cách đầy đủ và trung thực những trải nghiệm của con người trong đời sống. Tiểu thuyết nhất thiết phải dựa vào cốt truyện, hấp dẫn người đọc bằng nội dung câu chuyện kể, bằng những diễn biến đời sống của một nhân vật mang tính cách giống họ hay khác họ. Câu chuyện và cách giải quyết vấn đề mà tiểu thuyết đặt ra, dù thế nào cũng phải đi đến một kết thúc mà mọi mâu thuẫn đều được giải quyết và trả người đọc trở về với trật tự cũ của đời sống.
Tính thẩm mỹ ở tiểu thuyết sẽ biểu hiện ở ngôn ngữ, ở sự hài hòa thống nhất của tổng thể và các phân đoạn, sự liên kết chặt chẽ giữa các phần … làm cho câu chuyện trôi chảy, mạch lạc, đưa người đọc vào cõi “hiện thực hư cấu” của câu chuyện. Từ sau đổi mới (1986) và đặc biệt là đến thế kỷ XXI, quan niệm ấy trong tiểu thuyết dần bị phá vỡ. Quan niệm về tự sự, quan niệm về hiện thực của thể loại tiểu thuyết có sự thay đổi. Nhận thức rằng, hiện thực là phong phú, phức tạp và không thể hoặc khó có thể “kể lại” được, tiểu thuyết không chỉ thực hiện sứ mệnh phản ánh hiện thực xã hội, bởi vậy tiểu thuyết thế kỷ XXI thay đổi cả về nội dung và cấu trúc thể loại.
Đặc điểm nổi bật của tiểu thuyết thế kỷ XXI là tiểu thuyết có sự mở rộng biên độ và đa dạng hóa cái nhìn về thế giới và con người. Tiểu thuyết không c 12 còn là tấm gương soi của thời đại, không nhất thiết phải là một hiện thực khả tín. Hiện thực trong tiểu thuyết chỉ là một khả thể, thậm chí bất khả tín. Ở góc độ chủ thể sáng tạo, tiểu thuyết không chỉ là tiếng nói của dân tộc, thời đại mà quan trọng hơn còn là phát ngôn thể hiện tư tưởng quan niệm riêng của người nghệ sĩ.
Nhà văn có quyền đề xuất những chuẩn mực giá trị mới, có quyền trình bày những kinh nghiệm cá nhân. Tiểu thuyết đương đại tái hiện lịch sử theo nhãn quan người viết và miêu tả số phận con người. Nhà văn đặc biệt quan tâm đến con người cô đơn, con người thân phận. Nhiều tiểu thuyết đã khắc họa lịch sử của một dòng họ, một gia đình, một đời người gắn với những biến động của lịch sử, thăng trầm của xã hội.
Những vấn đề cũ như chiến tranh, thời bao cấp vẫn tiếp tục được các nhà văn quan tâm, phản ánh nhưng cái nhìn ít nhiều đã thay đổi. Tiểu thuyết đầu thế kỷ XXI hình thành các khuynh hướng: Tiểu thuyết tân lịch sử (sự phản tư lịch sử), tiểu thuyết hiện sinh (sự phân rã những mảng hiện tồn), tiểu thuyết tính dục (sự phì đại của dòng văn chương thân xác), tiểu thuyết nữ quyền (phụ nữ không phải là “cái khác vắng mặt”)… Một đặc điểm đáng chú ý ở tiểu thuyết thế kỷ XXI đó là sự đa dạng hóa các loại hình tiểu thuyết. Có thể nhận thấy rõ, phần lớn tiểu thuyết viết theo thi pháp truyền thống. Bên cạnh đó, bước đầu đã xuất hiện những tiểu thuyết viết theo thi pháp hiện đại, có yếu tố hậu hiện đại.
Ở những tiểu thuyết viết theo thi pháp truyền thống, nhà văn vẫn viết bằng lối cũ nhưng đã có những đổi mới trong nội dung tư tưởng. Có thể nhận thấy rõ ở những tiểu thuyết này, sự mới mẻ trong cái nhìn nhiều chiều về cuộc sống. Các nhà văn đã phản ánh chân thực cuộc sống, mạnh dạn đề cập đến những góc khuất, góc kín trong đời sống tâm hồn con người. Ở lối viết này, nhiều nhà văn đã làm mới bằng sử dụng yếu tố tự truyện vào tác phẩm.
Yếu tố tự truyện được đưa vào tác phẩm giúp nhà văn bộc lộ cách nhìn, cách cảm, cách phản ánh mới mẻ, sâu sắc về hiện thực đời sống và con người. Từ đó dễ dàng đề cập đến những vấn c 13 đề nhạy cảm, những góc khuất, góc kín trong cuộc sống và trong đời sống tâm hồn con người. Tiêu biểu như: Thượng đế thì cười của Nguyễn Khải, Một mình một ngựa của Ma Văn Kháng, Gia đình bé mọn của Dạ Ngân, Tiền định của Đoàn Lê. Bên cạnh đó, một số nhà văn nỗ lực cho sự đổi mới thể loại đã cho ra đời những tiểu thuyết viết theo thi pháp hiện đại, có yếu tố hậu hiện đại.
Với nghệ thuật trần thuật mới mẻ, với những yếu tố ảo hóa, những vấn đề của cuộc sống và con người được đề cập trong một hình thức mới, lạ hơn. Tiêu biểu cho lối viết này là tiểu thuyết: Chinantow, T.mất tích (Thuận), Người sông mê (Châu Diên), Mười lẻ một đêm (Hồ Anh Thái), Thiên thần sám hối (Tạ Duy Anh)… Sự nhòe mờ ranh giới thể loại, sự xâm nhập của các thể loại khác vào cấu trúc nội tại của tiểu thuyết cũng là một đặc điểm đáng ghi nhận của tiểu thuyết thế kỷ XXI. Bản chất của thể loại tiểu thuyết là luôn linh hoạt, uyển chuyển. Bakhtin đã nhận định: “Nòng cốt của thể loại tiểu thuyết chưa hề rắn lại và chúng ta chưa thể đoán được hết những khả năng uyển chuyển của nó”.
Những năm gần đây, tiểu thuyết Việt Nam có hiện tượng pha trộn với truyện ngắn, kịch, tiểu luận triết học, thơ ca, nhật ký, báo chí, huyền thoại.