phần Mở đầu, phần Kết luận và phần Phụ lục; Luận văn gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Vấn đề yếu tố tự sự và yếu tố tự sự trong thơ chữ Hán ở Việt Nam giai đoạn thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX. Chƣơng 2: Yếu tố tự sự thể hiện qua nội dung thơ. Chƣơng 3: Yếu tố tự sự thể hiện qua phƣơng thức nghệ thuật. c 17 Chƣơng 1 VẤN ĐỀ YẾU TỐ TỰ SỰ VÀ YẾU TỐ TỰ SỰ TRONG THƠ CHỮ HÁN Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN THẾ KỶ XVIII - NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX 1.
Khái niệm yếu tố tự sự và đặc trƣng cơ bản của yếu tố tự sự 1. Khái niệm yếu tố tự sự và quan niệm về một bài thơ có yếu tố tự sự Tự sự hay trần thuật (tiếng Anh: Narrative) là một “Phƣơng thức tái hiện đời sống, bên cạnh hai phƣơng thức khác là trữ tình và kịch đƣợc dùng làm cơ sở để phân loại tác phẩm văn học” [11; tr. Chúng đều mang nghĩa chung là kể (sự việc, sự kiện, hoạt động…) liên quan tới chủ thể nhận thức. Một bài thơ có yếu tố tự sự là bài thơ mà sau khi tiếp nhận tác phẩm một cách trọn vẹn dƣới dạng văn bản (nói, viết), chúng ta có thể kể lại đƣợc.
Hiển nhiên, điều đó đƣợc thực hiện nhờ vào các yếu tố đặc trƣng của phƣơng thức tự sự trong thơ, nhƣ: cốt truyện, sự kiện, nhân vật… Nội dung kể không chỉ bao gồm sự việc, sự kiện khách quan mà còn có thể là chính dòng trạng thái, tâm sự của tác giả. Hiểu nhƣ vậy, chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi trong thơ ca trung đại Việt Nam, không ít tác giả gọi các bài thơ trữ tình do mình sáng tác là “Thuật hoài”, “Tự tình”, “Thuật hứng”, “Tức sự”, “Tự thán”, “Độc thán”… Ở một chừng mực nào đó, những bài thơ này cũng đƣợc coi là có yếu tố tự sự vì chúng đều mang nghĩa chung là “kể nỗi lòng” hay “bày tỏ nỗi lòng”. Chẳng hạn: “Nam nhi vị liễu công danh trái Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu” (Công danh nam tử còn vƣơng nợ c 18 Luống thẹn tai nghe chuyện vũ hầu - Phạm Ngũ Lão, Thuật hoài) Hoặc: “Bui một tấc lòng ƣu ái cũ Đêm ngày cuồn cuộn nƣớc triều đông” (Nguyễn Trãi - Thuật hứng số 5) Thật ra, yếu tố tự sự của mọi nền văn học trên thế giới đã đƣợc khơi nguồn từ rất sớm, ngay trong kho tàng văn học dân gian (folklore) của các dân tộc. Các câu chuyện trong văn học dân gian rất giàu các chi tiết, trở thành nguồn tƣ liệu phong phú cho văn học viết sau này.
“Trong một thời gian trƣớc khi ngôn ngữ viết, loại chi tiết này trong một bài thơ kể chuyện đã làm việc để truyền lại các sự kiện lịch sử cho thế hệ tiếp theo” và “ngay cả khi ngôn ngữ viết xuất hiện, thơ tự sự vẫn là hình thức chủ đạo của câu thơ” [49]. Vì vậy, không phải ngẫu nhiên ở phƣơng Tây, ngƣời ta coi sử thi I-li-at và sử thi Ô- đi-xê của Hômer là những bài thơ kể chuyện (Narrative Poem). Đặc trưng cơ bản của yếu tố tự sự Đặc trƣng cơ bản của yếu tố tự sự trong tác phẩm văn học bị chi phối bởi phƣơng thức tự sự. Trong thơ ca, đây chính là căn cứ để xác định các tiêu chí nhận diện một bài thơ có yếu tố tự sự.
Về nội dung phản ánh Yếu tố tự sự là toàn bộ hiện thực đời sống xã hội đƣợc phản ánh trong tác phẩm theo phƣơng thức tự sự. Trong hiện thực đời sống của tác phẩm, con ngƣời luôn ở vị trí trung tâm với tất cả các mối quan hệ xã hội đa dạng, phức tạp vốn có. Hiện thực của tác phẩm gắn với các sự kiện, sự việc diễn ra trong đời sống xã hội theo sự quan sát của ngƣời kể chuyện. Vì đƣợc “lọc” qua lăng kính cá nhân nên nó không tránh khỏi màu sắc chủ quan; nhất là trong cảm nhận, đánh giá.
Đồng thời, hiện hữu trong không gian, thời gian với những c 19 chiều kích riêng, với điểm nhìn nghệ thuật đƣợc xác lập trong văn bản tác phẩm. Chẳng hạn, khi Nguyễn Du viết: “Những điều trông thấy mà đau đớn lòng” (Truyện Kiều); thì đó không chỉ là sự khái quát hiện thực từ “những điều trông thấy” mà còn là tâm trạng cá nhân của ngƣời cầm bút nên mới “đau đớn lòng”. Đó chính là biểu hiện của yếu tố tự sự (kể chuyện) nhƣng đã (và luôn) nhuốm màu chủ quan của ngƣời nghệ sĩ (ngƣời kể chuyện). Nội dung kể chuyện có liên quan và đề cập đến nhiều phƣơng diện khác nhau trong đời sống xã hội.
Chẳng hạn, các tác phẩm tự sự về chủ đề lịch sử dân tộc; các tác phẩm về chủ đề thế sự - đạo đức; các tác phẩm tự sự về chủ đề đời sống riêng tƣ của con ngƣời… Tùy thuộc vào tâm thế, tƣ tƣởng khác nhau của ngƣời kể chuyện, của ý đồ nhà văn ; chúng ta sẽ có các loại, các cấp độ khác nhau về nội dung phản ánh trong tác phẩm. Thậm chí, ngay trong một tác phẩm tự sự cũng có thể hiện diện những chủ để riêng. Bài thơ Long thành cầm giả ca (Bài ca về ngƣời gảy đàn ở đất Long thành) của Nguyễn Du không chỉ là câu chuyện về cuộc đời một ca nữ tài sắc vẹn toàn nhƣng phải chịu cảnh đời đen bạc, số phận hẩm hiu mà còn là những suy ngẫm sâu xa có ý nghĩa triết luận của thi nhân về những biến đổi “dâu bể” trong cơn bão táp của lịch sử dân tộc ở vào giai đoạn cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ XIX. Về phương thức biểu đạt Nội dung (yếu tố) tự sự của tác phẩm luôn luôn đƣợc thể hiện thông qua cốt truyện và hệ thống nhân vật.
Cốt truyện Cốt truyện (tiếng Anh: Plot) là “Hệ thống sự kiện cụ thể, đƣợc tổ chức theo yêu cầu tƣ tƣởng và nghệ thuật nhất định, tạo thành bộ phận cơ bản và quan trọng nhất trong hình thức động của tác phẩm văn học thuộc các loại tự sự và kịch” [11; tr.là chuỗi các sự kiện đƣợc tạo dựng trong tác phẩm c 20 tự sự và kịch, nằm dƣới lớp lời trần thuật, làm nên cái sƣờn của tác phẩm” [34; tr. Cốt truyện truyền thống (từ thời cổ đại) có cấu trúc gồm 5 thành phần: (1) Trình bày; (2) Thắt nút; (3) Phát triển; (4) Cao trào; (5) Mở nút [35; tr. Tuy nhiên, trong các tác phẩm thuộc phƣơng thức trữ tình, cốt truyện (đƣợc hiểu theo ý nghĩa chặt chẽ nhất của khái niệm này, còn gọi là khái niệm đƣợc hiểu theo tinh thần truyền thống) không tồn tại trên thực tế, bởi lẽ nội dung tƣ tƣởng chủ đề tác phẩm luôn đƣợc các tác giả thể hiện thông qua tình cảm, tâm trạng của cái tôi trữ tình. Theo quan niệm của lý luận văn học hiện đại, cốt truyện là (và chỉ cần) “.
chuỗi sự kiện có thể theo dõi đƣợc. Với quan niệm này, yếu tố tự sự đƣợc bộc lộ thông qua cốt truyện trong các tác phẩm trữ tình (ví dụ: Truyện Kiều của Nguyễn Du, Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, Ép-ghê- nhi Ô-nhê-ghin của Puskin.), đƣợc hiểu là “.toàn bộ các biến cố, sự kiện đƣợc nhà văn kể ra, là cái mà ngƣời đọc có thể đem kể lại (histoire)” [11; tr. Ở đây, không thể không lƣu ý sự hiện diện của các yếu tố tự sự (cốt truyện, sự kiện, nhân vật) trong tác phẩm trữ tình. Một số nhà lý luận văn học nhận xét: “Trong thơ cũng có các sự kiện làm nền tạo nên ý thức của nhà thơ, nhƣ Sở kiến hành, Thái Bình mại ca giả của Nguyễn Du, Binh xa hành, Thạch Hào lại của Đỗ Phủ” [35; tr.
Dƣới góc nhìn của tự sự học, có thể thấy: “Sự kiện trong thơ thƣờng nằm ở tầng chìm, không thuộc đối tƣợng biểu hiện của nhà thơ, nhƣng vẫn là nguồn sinh nghĩa của văn bản. Vì thế tìm hiểu sự kiện trong văn bản cũng là một cách tiếp cận ý nghĩa bài thơ. Đó là phƣơng diện “thông tin sự kiện” của văn bản” [35; tr. Thậm chí, trong một số trƣờng hợp, sự kiện còn có khả năng đƣợc mở rộng thành cốt truyện: “Do sự kiện tự nó có ý nghĩa, có tiền nhân và hậu quả, cho nên có thể đƣợc mở rộng thành cả một cốt truyện” [35; tr.
Chẳng hạn, các sự kiện trong một số bài thơ, nhƣ: Tỳ bà hành của Bạch Cƣ Dị, Sở kiến hành và Thái Bình mại ca giả c 21 của Nguyễn Du, Đằng tiên ca của Cao Bá Quát. là nhƣ vậy. Nói cách khác, đây cũng chính là toàn bộ hành trình mà nhân vật chính đã dịch chuyển qua các không gian khác nhau để tạo nên các trƣờng nghĩa khác nhau. Trong tác phẩm tự sự (truyện hoặc thơ tự sự), ngoài cốt truyện, ngƣời ta thấy có cả các lời bình, lời trữ tình của ngƣời kể chuyện/trần thuật.
Đây cũng đƣợc coi là các yếu tố thuộc về chỉnh thể tác phẩm. Chúng đóng vai trò là những bộ phận “tạo nên sự đặc sắc của tác phẩm” [35; tr. Nhân vật Nhân vật trong tác phẩm văn học (tiếng Anh: Literary Character) là “Con ngƣời đƣợc miêu tả trong tác phẩm văn học.) có thể có tên riêng (.) cũng có thể không có tên riêng (. Nhân vật là phƣơng tiện cơ bản để nhà văn khái quát hiện thực thông qua việc xây dựng các hình tƣợng văn học.
Theo Trần Đình Sử: “. nhân vật văn học là hình thức thể hiện định hƣớng giá trị đời sống” [35; tr. Trong quá trình phát triển của lịch sử văn học, có một số kiểu (loại) cấu trúc nhân vật cần chú ý khi tìm hiểu các tác phẩm tự sự, bao gồm: (1) Nhân vật chức năng (nhân vật mặt nạ): là loại nhân vật không đƣợc miêu tả đời sống nội tâm, phẩm chất, chỉ đảm nhiệm chức năng nào đó trong tác phẩm (ví dụ: bụt, tiên. trong truyện cổ tích).
(2) Nhân vật “loại hình”: là loại nhân vật mang những đặc điểm chung, khái quát về đặc tính con ngƣời trong đời sống xã hội, có tính điển hình cao. (3) Nhân vật tính cách: là loại nhân vật đƣợc khắc họa một cách sống động với tƣ cách một chủ thể nhận thức, có đời sống nội tâm phong phú, phức tạp. (4) Nhân vật tƣ tƣởng: là loại nhân vật có một số nét cá tính, nhân cách nhất định, nhƣng mục đích chủ yếu là nhằm thể hiện, minh họa cho một tƣ tƣởng, một quan điểm diễn ra trong đời sống xã hội. c 22 (5) Nhân vật ngụ ngôn: là loại nhân vật nhằm hƣớng tới một quan niệm, một bài học có ý nghĩa triết lý về nhân sinh.