Phần mở đầu 2. Tổng quan và cơ sở lý luận 3. Chương II. Phương Pháp nghiên cứu.
chương III. Kết quả và Bàn luận 5. Kết luận và khuyến nghị. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.
Khái niệm về tiêu chuẩn, tiêu chí, chỉ số 1. Khái niệm Tiêu chuẩn, chuẩn mực (Standards) Adam Stephen (2006), đã đưa ra khái niệm về tiêu chuẩn đánh giá: Tiêu chuẩn đánh giá là những mô tả về những gì người học dự kiến sẽ làm được để chứng minh kết quả học tập đã đạt được. Kết quả học tập thường được đánh giá thông qua mức ngưỡng. Tiêu chuẩn có thể được mô tả như là một phát biểu dưới dạng thuật ngữ chung hay riêng về kiến thức, sự hiểu biết, kỹ năng và thái độ được chứng minh bằng những sinh viên tốt nghiệp thành công.
Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học là mức độ yêu cầu và điều kiện mà trường đại học phải đáp ứng để được cộng nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục. Nguyễn Kim Dung, Phạm Xuân Thanh (2003), trong “Về một số khái niệm thường dùng trong đảm bảo chất lượng giáo dục đại học” đã đề xuất các khái niệm về chuẩn mực, tiêu chí, chỉ số thực hiện dựa trên các ý kiến khác nhau của các học giả trong và ngoài nước: Chuẩn mực: là khái niệm dùng để biểu thị những đặc tính, phẩm chất của chất lượng mà chúng ta muốn đạt được. Trong giáo dục, chuẩn mực là những đòi hỏi mà một nền giáo dục hay một trường học mong muốn người học phải đạt được khi tốt nghiệp. Trong các văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn được dùng thay cho chuẩn mực [4].
Brennan (1997), cho rằng: Chuẩn mực được dùng để gắn kết với mức độ của đầu ra. Chuẩn mực được xem như kết quả mong muốn của một chương trình đào tạo trong giáo dục bao gồm: Kiến thức, kỹ năng, thái độ cần 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com có của người tốt nghiệp, kể cả chuẩn mực của bậc học lẫn ngành đào tạo. Khái niệm Tiêu chí Theo tác giả Nguyễn Kim Dung, Phạm Xuân Thanh (2003): Tiêu chí: Là sự cụ thể hóa của chuẩn mực, chỉ ra những căn cứ để đánh giá chất lượng. Tiêu chí có thể đo được thông qua các chỉ số thực hiện [4].
Theo Công văn số 2754/BGDĐT- NGCBQLGD về Lấy ý kiến phản hồi từ người học về hoạt động giảng dạy của giảng viên của Bộ GD&ĐT ngày 20 tháng 5 năm 2010, xác định: Tiêu chí là các hoạt động, công việc mà giảng viên cần thực hiện khi giảng dạy, mỗi tiêu chí được xác định bởi một số chỉ số cụ thể [1].3 Khái niệm Chỉ số Theo nghiên cứu của hai tác giả Nguyễn Kim Dung, Phạm Xuân Thanh (2003) về một số khái niệm thường dùng trong đảm bảo chất lượng giáo dục đại học thì: Chỉ số thực hiện: Là những con số hoặc những kí hiệu định lượng dùng để đo lường các tiêu chí chất lượng [4]. Chỉ số: là khía cạnh cụ thể của tiêu chí về hoạt động, công việc cụ thể của giảng viên trong giảng dạy mà người học có thể cảm nhận được trong quá trình học tập [4]. Như vậy, trong nghiên cứu của mình, tác giả xác định các định nghĩa về tiêu chí và chỉ số của hai tác giả Nguyễn Kim Dung, Phạm Xuân Thanh là phù hợp với đề tài nghiên cứu. Khái niệm về đánh giá (Evaluation) Đánh giá là nguồn cung cấp thông tin phản hồi trong các quá trình điều khiển.
Một cách tổng quát, đánh giá được coi là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả công việc dựa vào sự phân tích những thông 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tin thu hồi được đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc. Đánh giá không chỉ đơn thuần là nguồn thông tin phản hồi mà còn là một trong những cơ chế điều khiển hữu hiệu quá trình giáo dục. Nếu việc đánh giá không được tiến hành đúng theo các mục tiêu giáo dục thì cả quá trình giáo dục sẽ bị lệch lạc theo. Trong giáo dục và quản lý giáo dục, đánh giá là quá trình mà người giáo viên, nhà quản lý thu thập những thông tin về thực trạng dạy học, giáo dục và quản lý của nhà trường, trên cơ sở đó chỉ rõ những kết quả đã đạt được và chưa đạt được, làm rõ nguyên nhân và đề xuất các biện pháp để nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động dạy học, hoạt động giáo dục và hoạt động quản lý.
Đánh giá là một khâu không tồn tại độc lập, mà đan xen với việc lập kế hoạch hoạt động của nhà trường, kế hoạch dạy học và khâu tổ chức, quản lý các hoạt động. Đánh giá là quá trình thu thập thông tin, chứng cứ về đối tượng cần đánh giá và đưa ra những phán xét, nhận định về mức độ đạt được theo các thang đo hoặc các tiêu chí đã được đưa ra trong các tiêu chuẩn hay chuẩn mực. Đánh giá có thể là đánh giá định lượng (quantitative) dựa vào các con số hoặc định tính (quanlitative) dựa vào các ý kiến và giá trị. Theo quan niệm của triết học, đánh giá là xác định giá trị của sự vật, hiện tượng xã hội, hoạt động hành vi của con người tương xứng với những mục tiêu, nguyên nhân mong đợi hay chuẩn mực nhất định, từ đó bộc lộ một thái độ.
Nó có tính động cơ, phương tiện và mục đích hành động. Khái niệm “đánh giá” được sử dụng rất phổ biến trong giáo dục đại học. Theo Trần Thị Tuyết Oanh (2007) đánh giá là hoạt động của con người 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhằm phán xét về một hay nhiều đặc điểm của sự vật, hiện tượng, con người theo những quan niệm và chuẩn mực nhất định mà người đánh giá cần tuân theo. Trong hội thảo – tập huấn về kiểm định chất lượng giáo dục đại học tổ chức tại Quảng Ninh (2012), G.S Anthony de Sam Lazaro cũng đưa ra định nghĩa: đánh giá là một hay nhiều quá trình xác định, thu thập và chuẩn bị số liệu để đánh giá mức độ đạt được của các chuẩn đầu ra và các mục tiêu giáo dục của giáo dục đào tạo.
Cả hai khái niệm này cho thấy, đánh giá nhấn mạnh đến sự phù hợp giữa mục tiêu và việc thực hiện. Quan điểm này cũng trùng hợp với R.Tiler (1984): “Quá trình đánh giá chủ yếu là quá trình xác định mức độ thực hiện các mục tiêu của chương trình giáo dục”. Theo GS Trần Bá Hoành “Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả của công việc dựa vào việc phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc”. Theo Phạm Xuân Thanh (2007) đánh giá là một quá trình bao gồm: - Chuẩn bị một kế hoạch; - Thu thập, phân tích thông tin và thu được kết quả; - Chuyển giao các kết quả thu được đến những người liên quan để họ hiểu về đối tượng đánh giá hoặc giúp những người có thẩm quyền đưa ra các nhận định hay các quyết định liên quan đến đối tượng đánh giá.
Bên cạnh đó còn có thể kể đến quan điểm của một số nhà nghiên cứu như L.Orey đánh giá được coi là mô hình 3 yếu tố: hình 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thành kết quả mong đợi (hay còn gọi là xây dựng chuẩn cho công tác đánh giá); Thu thập bằng chứng; Sử dụng bằng chứng. Theo Owen và Rogers (1999), đánh giá là việc thu thập thông tin một cách hệ thống và đưa ra những nhận định dựa trên cơ sở các thông tin thu được theo quy trình 4 bước: - Xây dựng tiêu chí đánh giá; - Xây dựng các chuẩn mực; - Đo lường các thuộc tính sự vật theo tiêu chí và đối chiếu với chuẩn mực; - Tổng hợp và tích hợp các bằng chứng thu được để dưa ra những nhận định chuẩn xác. Khái niệm giảng dạy Giảng dạy là sự điểu khiển tối ưu hóa quá trình SV chiếm lĩnh khái niệm khoa học, trong và bằng cách đó, phát triển và hình thành nhân cách. Giảng dạy có hai chức năng thường xuyên tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau, sinh thành ra nhau đó là truyền đạt thông tin dạy học và điều khiển hoạt động học (GS.
Nguyễn Ngọc Quang). Tính nghệ thuật của việc giảng dạy thể hiện ở năng lực truyền đạt của người dạy làm sao cho khơi dậy được tiềm năng tiếp thu, phát triển và sáng tạo của SV để nhận thức, để cảm nhận và để có kĩ năng cao. Triết lý dạy và học hiện đại. Quá trình phát triển lý luận dạy học, đã có bốn triết lý về phương pháp Dạy học được mô tả qua sơ đồ sau: 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trò Thầy Triết lý I Triết lý II Triết lý III Triết lý IV DH là truyền đạt DH là lý giải DH là cùng tìm tòi DH là hướng dẫn thông tin thông tin và lý giải thông tin chiếm lĩnh, nghiên thông tin cứu thông tin Từ sơ đồ chuyển đổi của bốn triết lý Dạy Học cho thấy đó là quá trình chuyển đổi từ lấy Dạy làm chính sang lấy Học làm chính.
Và vì vậy cũng có sự chuyển đổi vai trò người dạy (lấy thầy làm trung tâm) và vai trò của người học (lấy trò làm trung tâm) trong Dạy Học. có thể nhận rõ sự khác biệt về phương pháp Dạy và Học theo các triết lý I và II với III và IV qua bảng sau: Triết lý I và II Triết lý III và IV Lấy thầy làm trung tâm Lấy trò làm trung tâm Thầy truyền đạt kiến thức, trò thụ Trò tự mình chiếm lĩnh kiến thức động tiếp thu. dưới sự hướng dẫn của thầy Thầy truyền thụ một chiều, độc thoại Đối thoại: trò - thầy; trò – trò; hợp tác hay phát vấn với bạn và thầy; do thầy quản lý và tổ chức. Thầy giảng giải – trò ghi nhớ, học Học cách học, cách ứng xử, cách giải thuộc lòng quyết vấn đề, cách sống Thầy độc quyền đánh giá Trò tự đánh giá, tự điều chỉnh; cung cấp liên hệ ngược cho thầy đánh giá, có tác dụng khuyến khích tự học Thầy là thầy về dạy: dạy chữ, dạy Thầy là thầy về học, chuyên gia về nghề, dạy làm người việc học, dạy cách học cho trò tự học chữ, tự học nghề, tự học nên người.
14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.