CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Nhóm các nghiên cứu phân tầng giáo dục đại học Việc phân tầng giáo dục đại học là một nội dung được các trường đại học trên thế giới quan tâm nghiên cứu và thực hiện liên tục bởi nhu cầu gia tăng số lượng người học ĐH và đảm bảo chất lượng đào tạo là một giá trị kép mang tính tỷ lệ thuận. Đồng thời, phân tầng giáo dục là quá trình tự phân hóa của các cơ sở GDĐH, theo sứ mạng, mục tiêu và quy mô của cơ sở.
Phân tầng GDĐH là bản chất phát triển của GDĐH. Việc phân tầng GDĐH xuất phát từ các nước châu Âu vào thế kỷ thứ XIX rồi đến Úc, Hoa Kỳ và lan sang Châu Á. Đức là nước thực hiện việc phân tầng GD đầu tiên; phương thức phân tầng ở Úc gần giống ở Anh với hệ nhị phân, tuy nhiên mô hình này bị loại bỏ vào những năm 90 của thế kỷ XX. Ở Hoa Kỳ, phân tầng GDĐH công lập khá ổn định, tồn tại và phát huy tác dụng cho đến ngày nay.
Ở các nước châu Á, việc phân tầng được thực hiện với nhiều hình thức khác nhau có thể là tự thân, hoạch định hoặc kết hợp cả hai hình thức. Gần đây, sự phân tầng GDĐH có sự tham gia của các cơ quan quản lý Nhà nước. Trên thế giới, vấn đề phân tầng GD nói chung và GDĐH nói riêng nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và các tổ chức nghiên cứu giáo dục. Với nghiên cứu “Sự phân tầng của các trường ĐH Israel: hàm ý về chính sách GDĐH” (2000), Abraham Yogev đề cập sự phát triển phân tầng hệ thống trường ĐH ở Mỹ và Anh.
Đồng thời, tác giả nghiên cứu các vấn đề về các trường ĐH ở Israel, nơi mà tất cả các trường ĐH và cao đẳng được quy định bởi Hội đồng GDĐH (CHE) và được kiểm soát công khai. Ba tác động 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của các mô hình phân tầng về chính sách GDĐH trong các hệ thống kiểm soát công khai được thảo luận bao gồm mức độ và sự ổn định của sự phân tầng ĐH trong các hệ thống; những lợi ích và hạn chế của quá trình phân tầng này; tác động của nó đối với sự phát triển hơn nữa trong GDĐH, chủ yếu là sự mở rộng của các trường ĐH cấp bằng. Với nghiên cứu “GD và sự phân tầng ở các nước đang phát triển: tổng quan lý thuyết và nghiên cứu” (2001), Claudia Buchmann và Emily Hannum xem xét việc nghiên cứu về GD và bất bình đẳng trong khu vực đang phát triển. Bài viết tập trung vào thực nghiệm sự bất bình đẳng trong GD thể hiện ở 4 lĩnh vực: vĩ mô - những tác động về mặt cơ cấu lên việc định hình GD và phân tầng; mối quan hệ giữa hoàn cảnh gia đình và kết quả học tập; tác động từ nhà trường; ảnh hưởng của GD đến sự biến đổi kinh tế xã hội.
Nghiên cứu thực hiện bằng các phương pháp so sánh, phân tích với nguồn dữ liệu được lấy từ nhiều nước trên thế giới và có sự hợp tác giữa các chuyên gia đã nghiên cứu những vấn đề tương tự nhưng vẫn tách biệt. Với nghiên cứu “Mối quan hệ giữa phân tầng và đa dạng hóa giáo dục ĐH với những phân hóa về giới giữa các sinh viên vào học các chương trình hoặc các cơ sở giáo dục này” của Charles M. (2002), nhóm tác giả đã sử dụng phân tầng giáo dục của UNESCO thành các trường cấp bằng sau ĐH, bằng cử nhân ĐH và bằng cử nhân dưới ĐH để xem xét vấn đề này. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích số liệu và kiểm định giả thiết dựa trên các bảng số liệu.
Kết quả nghiên cứu: các sinh viên nữ có xu hướng xuất hiện nhiều hơn sinh viên nam trong một số nhóm trường, ngành nghề hoặc lĩnh vực như các trường đào tạo các ngành nghề liên quan tới tri thức, đặc biệt là trong các ngành nghề liên quan đến sức khỏe, giáo dục. Ngoài ra, đối với từng nước, hiện tượng mất cân đối về giới tính trong các 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phân tầng của các cơ sở giáo dục phụ thuộc nhiều vào các yếu tố văn hóa, lịch sử. Nhóm nghiên cứu Yossi Shavit, Richard Arum và Adam Amoran (2007) với tác phẩm “Phân tầng GDĐH: Một nghiên cứu so sánh” cũng đã tổng hợp các kinh nghiệm phân tầng GDĐH của 15 nước khác nhau trên toàn thế giới từ khắp các châu lục. Việc phân tầng GDĐH ở các nước này thực hiện trong bối cảnh các hệ thống đang được mở rộng để đáp ứng nhu cầu học tập, nghiên cứu khoa học, dịch vụ ngày càng đa dạng của xã hội và kinh tế.
Các tác giả cũng đề xuất một số cách thức phân loại các hệ thống GDĐH theo mức độ phân tầng (Nguyễn Thị Thu Hương, 2013). Với nghiên cứu “Mối liên hệ giữa việc quy hoạch các trường ĐH ở một số nước Châu Âu và sự tái xuất hiện bất bình đẳng liên thế hệ” của Triventi (2011), tác giả giải thích sự phát triển và phân tầng quá nhanh của giáo dục ĐH ở các nước Châu Âu trong một vài thập kỷ gần đây. Lý do là ở một số nước châu Âu, các gia đình có điều kiện hơn sẽ gửi con em họ vào học các trường có uy tín hơn để nhận những bằng cấp được các nhà tuyển dụng đánh giá cao hơn điều này không có ở Hoa Kỳ. Đồng thời, ba trong số bốn nước được nghiên cứu, tác giả thấy rằng có sự liên quan giữa trình độ giáo dục của cha mẹ với thành tích học tập cao nhất cũng như mức lương mà một người nhận được là có ý nghĩa thống kê.
Ngoài ra, các phân tích của nghiên cứu cũng cho thấy mối liên hệ giữa uy tín của trường, ngành học và độ dài chương trình học cũng có ảnh hưởng tới sự thành công trên con đường sự nghiệp của người tốt nghiệp xét trên các phương diện thăng tiến, lương trung bình, … Tóm lai, sự phân tầng các cơ sở GD ĐH về uy tín, lĩnh vực đào tạo, thời gian đào tạo có liên quan tới sự thành công của các sinh viên trong sự nghiệp về các mặt như thăng tiến, vị trí, thu nhập. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Mỗi công trình trên nghiên cứu theo một khía cạnh khác nhau của phân tầng giáo dục nhưng đều nói về các chính sách của giáo dục đại học gắn với sự phát triển chung của xã hội. Bên cạnh đấy, trong các năm gần đây, các nhà nghiên cứu GD trong nước cũng có những nghiên cứu về phân tầng GDĐH. Tuy nhiên, các nghiên cứu vẫn đang hướng đến việc phân tích lịch sử phát triển và một số quan điểm, phương pháp phân tầng được nghiên cứu ở các nước trên thế giới như “Phân tầng GDĐH: Những vấn đề nghiên cứu và kinh nghiệm thực tiễn của một số nước trên thế giới” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hương hoặc là một phần nhỏ trong các nghiên cứu GD như “Cải cách và chấn hưng GD” của Hoàng Tụy, “Nghị quyết Đại hội X trong lĩnh vực khoa giáo”, “Những nét điểm về phân tầng GDĐH ở Hoa Kỳ” của Đỗ Huy Thịnh,… Theo Hoàng Tụy (2005), trong tác phẩm “Cải cách và chấn hưng GD”, tác giả cho rằng GDĐH Việt Nam phải đi vào quỹ đạo của ĐH đại chúng nên chất lượng ĐH đang phải phân tầng…Trong Nghị quyết Đại hội X, ở lĩnh vực khoa giáo, các giải pháp cho sự phân loại GD được đưa ra “tạo ra nhiều cơ hội học tập khác nhau cho mọi người và phân tầng trình độ nguồn nhân lực, hình thành chương trình đào tạo theo hai hướng chính: hướng nghiên cứu và hướng nghề nghiệp, thực hành”.
Với nghiên cứu của Đỗ Huy Thịnh (2010) “Những nét điểm về phân tầng GDĐH ở Hoa Kỳ”, tác giả cho rằng phân tầng ĐH là sự phản ánh trung thực, cụ thể của chiến lược phát triển quốc gia, chiến lược phát triển GD. Sự tồn tại và phát triển của mỗi loại trường là do nó đáp ứng cho một số đối tượng người học, chương trình và trình độ đào tạo nhất định. Với nghiên cứu “Phân tầng GDĐH: Những vấn đề nghiên cứu và kinh nghiệm thực tiễn của một số nước trên thế giới” của Nguyễn Thị Thu Hương (2013), tác giả đã cung cấp tổng quan lịch sử phát triển phân tầng GDĐH của 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Pháp, Mỹ, Châu Á và rút ra kết luận phân tầng là xu thế tất yếu của GDĐH. Quá trình phân tầng có thể diễn ra một cách tự thân hoặc có sự tham gia hoạch định của các cơ quan quản lý nhà nước, phụ thuộc vào đặc thù của mỗi nước và ở mỗi giai đoạn phát triển nhất định.
Do đó, quá trình này diễn ra ở các nước và lãnh thổ có những điểm tương đồng và cũng có những điểm khác biệt. Với nhà nghiên cứu Phạm Phụ, ông cho rằng GDĐH Việt Nam cần sắp xếp theo thứ tự như sau: một là ĐH đại tinh hoa với chương trình học mang tính nghiên cứu, hai là ĐH cộng đồng ở các địa phương với mục đích tạo nguồn nhân lực phát triển kinh tế - xã hội cho địa phương, ba là ĐH tại chức – thực hành với mục đích tăng cường nội dung thực hành sát với đời sống việc làm; bốn là ĐH mở, ĐH từ xa, ĐH trực tuyến với mục đích phổ cập kiến thức cho người dân có nhu cầu. Với cách phân tầng này, Phạm Phụ cho rằng các trường ĐH có tính bình đẳng với nhau trong hệ thống GDĐH và sinh viên có khả năng phát huy năng lực, sáng tạo của cá nhân mình ở các cơ sở GD. Như vậy, mỗi nhà nghiên cứu, chuyên gia đề xuất một cách phân tầng khác nhau nhưng trong đó cũng đều có chung một quan điểm là các trường ở nhóm đầu là các trường theo định hướng nghiên cứu, các trường ở nhóm cuối là trường cao đẳng, trường nghề.
Các nghiên cứu về mô hình trường ĐH trên thế giới Các loại hình trường tồn tại trong các hệ thống ĐH thế giới hiện nay rất đa dạng. Việc phân loại chính xác các loại hình này khá phức tạp, tuy nhiên có thể kể ra một số tiêu chí phân loại chính như sau: - Theo số lượng ngành nghề: đa lĩnh vực, đa ngành, đơn ngành. - Theo chất lượng đào tạo: nghiên cứu, cộng đồng, chất lượng cao; trọng điểm, không trọng điểm. 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Theo cấp quản lý: các trường trung ương, các trường địa phương; các trường quốc gia, vùng, địa phương.
- Theo sở hữu: công lập và ngoài công lập - Theo phương thức đào tạo: tập trung, tại chức và đào tạo mở.