CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TỔNG MỨC ĐẦU TƯ VÀ RỦI RO TRONG DỰ ÁN XÂY DỰNG 1. Tổng quan về tổng mức đầu tư 1. Những khái niệm về tổng mức đầu tư cho dự án xây dựng công trình 1. Một số đặc điểm của thị trường xây dựng Việt Nam Thị trường xây dựng Việt Nam được vận hành theo đường lối đã được Đảng và Nhà nước ta lựa chọn là xây dựng nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN.
Đặc điểm này cho thấy vai trò quản lý của Nhà nước đối với thị trường xây dựng là rất quan trọng. Môi trường pháp lý thiếu, chưa ổn định. Nhiều văn bản pháp luật còn bộc lộ những bất cập và đã phải bổ sung, sửa đổi nhiều lần, thường xuyên. Đây là một trong những nguyên nhân làm cho tính cạnh tranh trên thị trường xây dựng thiếu lành mạnh và gây tốn kém, lãng phí cho nhà nước, xã hội.
Cung và cầu trên thị trường xây dựng mất cân đối nghiêm trọng. Lực lượng cung dư thừa, nhưng lại có điểm còn thiếu như thiếu các lực lượng xây dựng đặc chủng tinh nhuệ, thiếu những công ty mạnh có khả năng cạnh tranh với các nhà thầu nước ngoài. Phần lớn các doanh nghiệp hoạt động trên thị trường đều có quy mô nhỏ, chỉ có một số ít các doanh nghiệp có quy mô tương đối lớn. Tính cạnh tranh trên thị trường rất gay gắt.
Thị trường xây dựng Việt Nam đang đứng trước những cơ hội và thách thức to lớn trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế. Một số đặc điểm của giá xây dựng công trình[1] Giá CTXD là dự tính và mang tính đơn chiếc. Cách xác định giá xây dựng công trình có nhiều điểm khác so với cách xác định giá sản phẩm công nghiệp, đó là không thể xác định giá theo chủng loại, quy cách, chất lượng từng lô hàng mà chỉ có thể dự tính giá đơn chiếc. Xác định giá xây dựng công trình là một quá trình từ tổng mức đầu tư của dự án ở giai đoạn lập dự án đầu tư xây dựng công trình đến dự toán xây dựng công trình ở giai đoạn thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình và giá trị thanh toán, quyết toán 4 vốn đầu tư khi kết thúc xây dựng, đưa công trình vào khai thác, sử dụng.
Giá xây dựng là loại giá được tổ hợp theo cơ cấu bộ phận cấu tạo đối tượng (sản phẩm) nên có giá hạng mục công trình, bộ phận hạng mục, bộ phận kết cấu, chi tiết kết cấu. Chi phí đầu tư xây dựng công trình là toàn bộ chi phí cần thiết để xây dựng mới hoặc sửa chữa, cải tạo, mở rộng công trình xây dựng. Chi phí đầu tư xây dựng công trình được biểu thị qua các chỉ tiêu: - Chỉ tiêu tổng mức đầu tư của dự án ở giai đoạn lập dự án đầu tư xây dựng công trình. - Dự toán xây dựng công trình ở giai đoạn thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình.
- Giá trị thanh toán, quyết toán vốn đầu tư khi kết thúc xây dựng, đưa công trình vào khai thác, sử dụng. Chi phí đầu tư xây dựng công trình được lập theo từng công trình cụ thể, phù hợp với giai đoạn đầu tư xây dựng công trình, các bước thiết kế, nguồn vốn sử dụng và các quy định của Nhà nước. Việc lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình phải bảo đảm mục tiêu đầu tư và hiệu quả dự án, đồng thời phải bảo đảm tính khả thi của dự án đầu tư xây dựng công trình, bảo đảm tính đúng, tính đủ, hợp lý, phù hợp với điều kiện thực tế và yêu cầu khách quan của cơ chế thị trường. Nhà nước thực hiện quản lý chi phí dự án đầu tư xây dựng công trình, hướng dẫn phương pháp lập và quản lý chi phí dự án đầu tư xây dựng công trình, cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng công bố định mức, chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật và các thông tin liên quan để chủ đầu tư tham khảo xác định chi phí đầu tư.
Chủ đầu tư xây dựng công trình chịu trách nhiệm quản lý chi phí dự án đầu tư xây dựng công trình từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư đến khi công trình được đưa vào khai thác, sử dụng. Chủ đầu tư được thuê tổ chức, cá nhân tư vấn để thực hiện việc lập, thẩm tra và kiểm soát chi phí dự án đầu tư xây dựng công trình phù hợp với nguồn vốn sử dụng, điều kiện cụ thể của dự án. Tổng mức đầu tư xây dựng công trình[2] Tổng mức đầu tư xây dựng công trình được hiểu theo điều 134 Luật xây dựng 50/2014/QH2013: “Tổng mức đầu tư là chi phí dự tính để thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình, được tính toán và xác định trong giai đoạn lập dự án đầu tư xây dựng công trình phù hợp với nội dung dự án và thiết kế cơ sở; đối với trường hợp chỉ lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật, tổng mức đầu tư đồng thời là dự toán xây dựng công trình được xác định phù hợp với nội dung báo cáo kinh tế - kỹ thuật và thiết kế bản vẽ thi công”. Khi lập dự án đầu tư xây dựng công trình hay lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật, chủ đầu tư phải xác định tổng mức đầu tư để tính toán hiệu quả đầu tư xây dựng.
Tổng mức đầu tư đã được phê duyệt là chi phí tối đa mà chủ đầu tư được phép sử dụng để đầu tư xây dựng công trình và là cơ sở để chủ đầu tư lập kế hoạch và quản lý vốn để thực hiện đầu tư xây dựng công trình. Điều chỉnh tổng mức đầu tư[3] Tổng mức đầu tư được điều chỉnh đối với một trong các trường hợp sau đây: - Ảnh hưởng của động đất, bão, lũ, lụt, sóng thần, hoả hoạn, địch hoạ hoặc sự kiện bất khả kháng khác - Xuất hiện các yếu tố đem lại hiệu quả cao hơn cho dự án - Khi quy hoạch xây dựng thay đổi trực tiếp ảnh hưởng đến địa điểm, quy mô, mục tiêu của dự án Nội dung, thẩm quyền thẩm định, phê duyệt tổng mức đầu tư điều chỉnh được quy định tại các Khoản 2, 3 Điều 7 Nghị định số 32/2015/NĐ-CP. Trường hợp khi thay đổi cơ cấu các khoản mục chi phí trong tổng mức đầu tư, kể cả sử dụng chi phí dự phòng để điều chỉnh mà không vượt tổng mức đầu tư đã được phê duyệt thì chủ đầu tư được quyền quyết định việc điều chỉnh; trường hợp vượt tổng mức đầu tư đã được phê duyệt thì chủ đầu tư báo cáo người quyết định đầu tư xem xét, quyết định. 6 Tổng mức đầu tư điều chỉnh được xác định bằng tổng mức đầu tư đã được phê duyệt cộng (hoặc trừ) phần tổng mức đầu tư bổ sung.
Giá trị phần tổng mức đầu tư bổ sung được xác định thành một khoản chi phí riêng và phải được tổ chức thẩm định hoặc thẩm tra trước khi quyết định phê duyệt. Những hạng mục chi phí trong tổng mức đầu tư Tổng mức đầu tư được tính toán và xác định trong giai đoạn lập dự án đầu tư xây dựng công trình (báo cáo nghiên cứu khả thi) hoặc lập báo các kinh tế kỹ thuật. Tổng mức đầu tư của một công trình xây dựng bao gồm 07 thành phần: Công thức tổng quát ước tính tổng mức đầu tư xây dựng: V = G BT , TĐC + G XD + G TB + G QLDA + G TV + G K + G DP Trong đó + V: Tổng mức đầu tư xây dựng công trình + Chi phí bồi thường hỗ trợ tái định cư (G BT , TĐC ): - Chi phí bồi thường nhà cửa, vật kiến trúc, cây trồng trên đất. - Chi phí thực hiện tái định cư.
- Chi phí tổ chức bồi thường, giải phóng mặt bằng. - Chi phí sử dụng đất trong thời gian xây dựng. - Chi phí đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng. + Chi phí xây dựng (G XD ): - Chi phí xây dựng các công trình, hạng mục công trình - Chi phí phá và tháo dỡ các vật kiến trúc cũ - Chi phí san lấp mặt bằng xây dựng - Chi phí xây dựng công trình tạm, công trình phụ trợ phục vụ thi công 7 - Nhà tạm tại hiện trường để ở và điều hành thi công + Chi phí thiết bị (G TB ): - Chi phí mua sắm thiết bị công nghệ.
- Chi phí đào tạo và chuyển giao công nghệ. - Chi phí lắp đặt, thí nghiệm, hiệu chỉnh. - Chi phí vận chuyển, bảo hiểm. - Thuế và các loại phí liên quan khác.
+ Chi phí quản lý dự án (G QLDA ): Bao gồm các chi phí để tổ chức thực hiện công việc quản lý dự án từ khi lập dự án đến khi hoàn thành nghiệm thu bàn giao, đưa công trình vào khai thác sử dụng và chi phí giám sát, đánh giá dự án đầu tư. + Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng công trình (G TV ): - Chi phí khảo sát xây dựng. - Chi phí lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, khả thi và báo cáo kinh tế ky thuật. - Chi phí thi tuyển thiết kế kiến trúc.
- Chi phí thiết kế xây dựng công trình. - Chi phí lập báo cáo đánh giá tác động môi trường. - Chi phí tư vấn quản lý dự án. - Chi phí kiểm tra và chứng nhận sự phù hợp với chất lượng công trình.
- Một số chi phí khác + Chi phí khác(G K ): - Chi phí rà phá bom mìn, vật nổ. 8 - Chi phí bảo hiểm công trình. - Chi phí đăng kiểm chất lượng quốc tế, quan trắc biến dạng công trình. - Chi phí bảo đảm an toàn giao thông phục vụ thi công các công trình.
- Chi phí kiểm toán, thẩm tra, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư. - Chi phí nghiên cứu khoa học có liên quan đến dự án. - Vốn lưu động ban đầu đối với các dự án đầu tư xây dựng nhằm mục đích kinh doanh. - Lãi vay trong thời gian xây dựng.
- Một số chi phí khác + Chi phí dự phòng(GDP): Dự phòng do phát sinh khối lượng và dự phòng do yếu tố trượt giá. Phương pháp xác định tổng mức đầu tư khi chưa xét đến yếu tổ rủi ro[4] 1. Phương pháp xác định theo thiết kế cơ sở của dự án Theo thông tư 06/2016 TT-BXD ngày 10/3/2016.