Luận văn thạc sĩ công nghệ sinh học xác định chỉ thị phân tử ssr liên kết với gen chịu nóng và ứng dụng trong chọn tạo giống lúa chịu nóng

Luận văn thạc sĩ công nghệ sinh học nghiên cứu chỉ thị phân tử SSR liên kết gen chịu nóng, ứng dụng trong chọn tạo giống lúa chịu nhiệt hiệu quả.

Chuyên ngành

Công nghệ sinh học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

96
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu

Luận văn thạc sĩ 'Xác định chỉ thị phân tử SSR liên kết gen chịu nóng ứng dụng chọn tạo giống lúa' được thực hiện nhằm mục tiêu phát triển giống lúa có khả năng chịu nhiệt tốt. Biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất lúa gạo, đặc biệt là sự gia tăng nhiệt độ. Việc nghiên cứu và phát triển giống lúa chịu nóng trở nên cần thiết để đảm bảo an ninh lương thực. Đề tài tập trung vào việc xác định các chỉ thị phân tử SSR liên kết với gen chịu nóng, từ đó ứng dụng vào chọn tạo giống lúa chịu nóng.

1.1. Tầm quan trọng của cây lúa

Cây lúa (Oryza sativa) là cây trồng chủ lực tại Việt Nam, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế và an ninh lương thực. Sự gia tăng nhiệt độ do biến đổi khí hậu đang đe dọa năng suất lúa. Theo nghiên cứu, sản lượng lúa có thể giảm đến 41% vào cuối thế kỷ 21 nếu không có biện pháp thích ứng. Do đó, việc phát triển giống lúa chịu nhiệt là rất cần thiết.

II. Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp lai tạo giữa các dòng lúa để tạo ra quần thể có gen chịu nóng. Các chỉ thị phân tử SSR được sử dụng để xác định các dòng lúa có khả năng chịu nhiệt. Phương pháp đánh giá kiểu hình cũng được áp dụng để xác định tính chịu nóng của các dòng lúa. Kết quả từ các thí nghiệm cho thấy sự liên kết giữa các chỉ thị phân tử và gen chịu nóng, từ đó khẳng định tính chính xác của phương pháp chọn giống bằng chỉ thị phân tử.

2.1. Xây dựng quần thể lai tạo

Quá trình xây dựng quần thể lai tạo giữa dòng lúa chịu nhiệt và dòng tái tục được thực hiện nhằm tạo ra các dòng lúa mới có khả năng chịu nóng. Các dòng lúa được chọn lọc dựa trên các tiêu chí về kiểu hình và gen. Việc sử dụng các chỉ thị phân tử SSR giúp xác định nhanh chóng và chính xác các dòng lúa có gen chịu nóng, từ đó nâng cao hiệu quả trong công tác chọn giống.

2.2. Đánh giá kiểu hình

Đánh giá kiểu hình là một phần quan trọng trong nghiên cứu. Các chỉ tiêu như tỉ lệ hạt phấn bất dục và tỉ lệ hạt hữu thụ được sử dụng để đánh giá khả năng chịu nóng của các dòng lúa. Kết quả cho thấy có sự khác biệt rõ rệt giữa các dòng lúa, từ đó giúp xác định các dòng có triển vọng trong việc phát triển giống lúa chịu nhiệt.

III. Kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu đã xác định được 4 dòng lúa lai có khả năng chịu nóng tốt trong số 11 dòng lúa thí nghiệm. Hai chỉ thị phân tử SSR RM3586 và RM6089 được xác định có liên kết với gen chịu nóng. Kết quả cho thấy sự phù hợp giữa các chỉ thị phân tử và đánh giá kiểu hình, khẳng định tính hiệu quả của phương pháp chọn giống bằng chỉ thị phân tử trong việc phát triển giống lúa chịu nhiệt.

3.1. Kết quả xác định chỉ thị phân tử

Việc khảo sát 6 chỉ thị phân tử SSR trên các nhiễm sắc thể số 3 và số 4 đã cho thấy sự đa hình giữa giống chịu nhiệt và giống nhạy nhiệt. Các chỉ thị RM3586 và RM6089 đã được xác định có liên kết với gen chịu nóng, điều này mở ra hướng đi mới trong việc chọn tạo giống lúa chịu nhiệt.

3.2. Ứng dụng trong chọn giống

Kết quả nghiên cứu cho thấy việc ứng dụng các chỉ thị phân tử SSR trong chọn giống lúa chịu nhiệt là khả thi và hiệu quả. Sự phù hợp giữa kết quả chọn lọc bằng chỉ thị phân tử và đánh giá kiểu hình chứng tỏ tính chính xác của phương pháp này. Điều này có thể giúp nâng cao năng suất và chất lượng giống lúa trong tương lai.

IV. Kết luận và kiến nghị

Luận văn đã xác định được các chỉ thị phân tử SSR liên kết với gen chịu nóng, góp phần vào việc phát triển giống lúa chịu nhiệt. Kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng trong thực tiễn sản xuất nông nghiệp, giúp nâng cao năng suất lúa trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về các gen chịu nóng và mở rộng ứng dụng các chỉ thị phân tử trong chọn giống lúa.

4.1. Đề xuất nghiên cứu tiếp theo

Cần mở rộng nghiên cứu về các gen khác có liên quan đến tính chịu nóng ở cây lúa. Việc kết hợp giữa các phương pháp truyền thống và hiện đại trong chọn giống sẽ giúp tạo ra các giống lúa có khả năng chịu nhiệt tốt hơn. Đồng thời, cần có các chương trình hỗ trợ nông dân trong việc áp dụng các giống lúa mới vào sản xuất.

21/02/2025
Luận văn thạc sĩ công nghệ sinh học xác định chỉ thị phân tử ssr liên kết với gen chịu nóng và ứng dụng trong chọn tạo giống lúa chịu nóng

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Sự biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng. Biểu hiện rõ nhất là sự nóng lên của trái đất. Đến cuối thế kỷ 21, khí hậu trái đất được dự đoán sẽ trở nên nóng hơn từ 1,8-4oC (IPCC, 2007), do cả những yếu tố từ con người và tự nhiên (Eitzinger và ctv, 2010). Sự phát thải khí nhà kính như carbon dioxide, methane và N2O từ các hệ thống nông nghiệp là một trong những nguồn góp phần vào sự gia tăng nhiệt độ toàn cầu.

Kết quả nghiên cứu của Viện Lúa quốc tế về sự biến thiên của nhiệt độ ghi nhận từ 1979 đến năm 2003 nhiệt độ cao nhất đã tăng thêm 0,35oC và nhiệt độ thấp nhất tăng thêm 1,13oC. Cây lúa (Oryza Sativa) là một trong những cây lương thực quan trọng cho khoảng 1/2 dân số thế giới. Theo thống kê của bộ Nông Nghiệp Hoa Kỳ, năm 2011 trên thế giới có khoảng 158,5 triệu ha đất dùng cho việc trồng lúa, sản lượng là 697,8 triệu tấn thóc, khoảng 90% diện tích này thuộc các nước châu Á (145,3 triệu ha) với 653,2 triệu tấn thóc chiếm 92% tổng sản lượng lúa gạo thế giới. Hiện nay, sự thay đổi khí hậu đang diễn biến vô cùng phức tạp làm ảnh hưởng đến sản xuất lúa gạo trong tương lai gần.

Khô hạn, xâm nhập mặn, ngập úng và nhiệt độ cao hơn, đặc biệt trong giai đoạn lúa làm đòng và trổ bông là những hiện tượng ngày càng rõ nét, có ảnh hưởng nhất định với cây lúa. Sự gia tăng nền nhiệt độ trong tương lai hay nhiệt độ tăng cao ở vài giai đoạn quan trọng trong chu trình phát triển sẽ làm giảm sản lượng hạt. Với tình hình diễn biến xấu của khí hậu, sản lượng lúa ước tính sẽ giảm bớt đến 41% cho đến cuối thế kỷ 21 (Ceccarelli và ctv, 2010). Ở Việt Nam, lúa gạo được xem là loại cây trồng quan trọng nhất, và Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 thế giới sau Thái Lan.

Tuy nhiên, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, đặc biệt là nhiệt độ tăng đã và đang có ảnh hưởng lớn đến tình hình an ninh lương thực ở nước ta. Theo ghi nhận của Trung tâm dự báo khí tượng Thủy văn, nhiệt độ tại miền Nam Việt Nam có ngày đã lên đến 37- 40oC trong mùa hè, đây là ngưỡng gây hại cho cây lúa ở giai đoạn sinh sản. Do đó, nhằm đảm bảo sản lượng lúa sản xuất ra trong tương lai, việc nghiên cứu và phát 2 triển những giống lúa cho năng suất cao và có khả năng chống, chịu stress do nhiệt độ cao trở nên rất cần thiết. Đề tài “Xác định chỉ thị phân tử SSR liên kết với gen chịu nóng và ứng dụng trong chọn tạo giống lúa chịu nóng” được thực hiện làm cơ sở cho việc chọn tạo, phát triển giống lúa chịu nóng đáp ứng với sự thay đổi của khí hậu, phục vụ cho nhu cầu sản xuất hiện nay.

Mục tiêu của đề tài: - Đánh giá kiểu hình chống, chịu nóng của các cá thể trong quần thể lúa lai tạo. - Xác định chỉ thị phân tử SSR liên kết với gen chịu nóng ở cây lúa. - Ứng dụng chọn giống lúa chịu nóng. Trong giới hạn về thời gian và các điều kiện khác cho phép, đề tài được giới hạn trong các nội dung nghiên cứu như sau: - Xây dựng quần thể lai tạo giữa dòng cho gen và dòng tái tục.

- Lựa chọn phương pháp đánh giá kiểu hình chịu nóng. - Lựa chọn và ứng dụng marker cho PCR để xác định con lai chứa gen của quần thể lai tạo. - Ứng dụng chọn dòng bằng marker liên kết trên quần thể con lai. So sánh kết quả chọn lọc bằng chỉ thị phân tử với kết quả đánh giá chọn lọc dựa trên kiểu hình để khẳng định tính chính xác của chọn giống bằng chỉ thị phân tử.

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tổng quan về cây lúa 2.1 Phân loại thực vật cây lúa Theo phân loại thực vật, cây lúa thuộc Giới: Plantea Giới phụ: Tracheobionta Ngành: Magnoliophyta Lớp: Liliopsida Hình 2. Cây lúa Lớp phụ: Commelinidae Bộ: Cyperales Họ: Poaceae Chi: Oryza Loài: Oryza sativa L.(phân bố ở Châu Á) và loài Oryza glaberrima (phân bố ở Châu Phi) Trong đó, Oryza sativa L. là tên của lúa trồng phổ biến nhất hiện nay (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).2 Tìm hiểu về genome cây lúa Lúa là một trong những cây lương thực quan trọng nhất trên thế giới, có một mối quan hệ liên kết gen quan trọng với các loài ngũ cốc khác và là cây điển hình cho các cây thân cỏ. Như là bước đầu tiên trong mô tả đặc điểm chức năng của bộ gen lúa, dự án giải trình tự bộ gen lúa (International Rice Genome Sequencing Project - IRGSP) đã hoàn thành việc phân tích các trình tự của bộ gen cây lúa với 4 độ chính xác cao trên bản đồ di truyền.

Các phân tích đã cho thấy một vài đặc trưng nổi bật của bộ gen lúa: - Kích thước bộ gen là 389 Mb, lớn hơn khoảng 260 Mb so với trình tự đầy đủ của cây mô hình Arabidopsis thaliana. Các tác giả thu thập 370 Mb được giải trình tự hoàn chỉnh, đại diện cho 95% bao phủ toàn bộ gen và gần như tất cả các vùng điển hình.544 trình tự mã hóa protein liên quan đến yếu tố không chuyển vị được phát hiện, so sánh với khoảng 28.000 ở Arabidopsis, với một mật độ gen thấp hơn khoảng 1 gen trên 9,9 kb ở lúa.859 gen có lẽ chỉ có ở lúa và một vài loài ngũ cốc khác, một vài gen trong số đó có thể phân biệt được cây một lá mầm và hai lá mầm. - Gene knockout là những công cụ hữu ích để xác định chức năng gen và các gen liên quan đến kiểu hình. Các tác giả nhận diện được 11.487 vị trí chèn retrotransposon Tos17, 3.243 trong số đó ở trong các gen.

- Khoảng từ 0,38 đến 0,43% của bộ gen nhân chứa các đoạn DNA cơ quan, đại diện sự chuyển đổi lặp lại và tiếp diễn của DNA cơ quan đến bộ gen nhân. - Phần chuyển vị của lúa chiếm ít nhất 35% và được phổ biến bởi các đại diện từ các liên họ chuyển vị đã biết.127 điểm đa hình phân biệt giữa 2 phân loài lúa được trồng là japonica và indica, tạo nên một bản đồ di truyền độ phân giải cao cho lúa. Tần số đa hình nucleotide đơn (SNP) biến động từ 0,53 đến 0,78% (International Rice Genome Sequencing Project, 2005).2 Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới và Việt Nam Theo Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA), sản lượng lúa gạo toàn cầu niên vụ 2011/12 đạt 465,4 triệu tấn gạo, tăng 2,65 triệu tấn so với dự báo đưa ra trước đó và tăng 3% so với sản lượng niên vụ 2010/11 do diện tích thu hoạch toàn cầu tăng. Sản 5 lượng tăng tại các nước như: Myanmar, Ấn Độ, Malaysia, Ai Cập, Trung Quốc, Pakistan, EU, Colombia, Nigeria, Australia, Indonesia và Sri Lanka.

Trong khi đó, một số nước của khu vực Nam Mỹ sản lượng lúa gạo lại giảm. Sản lượng lúa gạo niên vụ 2011/12 của Brazil giảm 136 nghìn tấn, đạt 7,7 triệu tấn gạo do diện tích và năng suất giảm. Tại Ecuador giảm 82 nghìn tấn, đạt 624 nghìn tấn gạo do thời tiết mưa quá nhiều vào giai đoạn gieo trồng. Sản xuất lúa gạo niên vụ 2011/12 của Philippines cũng giảm 84 nghìn tấn, đạt 10,6 triệu tấn gạo.

Sự hình thành và phát triển sản xuất lúa gạo ở nước ta có lịch sử truyền thống lâu đời và có ảnh hưởng lớn đến đời sống của người dân. Việt Nam có khoảng 9,3 triệu ha đất nông nghiệp, phần lớn diện tích đất dành cho trồng lúa là chính khoảng 4,3 triệu ha (chiếm khoảng 46% diện tích đất nông nghiệp). Năm 2009 diện tích canh tác lúa có khoảng 7,44 triệu ha, năm 2011 tăng thêm 0,21 triệu ha lên 7,65 triệu ha. Theo số liệu tạm tính đến tháng 11/2012 cả nước đã gieo trồng được 7 triệu ha lúa.

Năng suất lúa bình quân 4,2 tấn/ha vào năm 2000 đã tăng lên 5,3 tấn/ha vào năm 2010. Năm 2012 theo số liệu ước tính năng suất có thể đạt mức cao nhất từ trước đến năm 2012 là 5,6 tấn/ha. Từ năm 1990 đến nay, sản lượng lúa gạo Việt Nam liên tục tăng trưởng nhờ biện pháp kỹ thuật canh tác tốt, tăng năng suất và một phần nhờ mở rộng diện tích canh tác hàng năm. Sản lượng lúa ở nước ta năm 1990 chỉ dừng lại ở 19,23 triệu tấn nhưng đến năm 2000 đã đạt được 32,51 triệu tấn.

Năng suất và diện tích canh tác tăng không ngừng đã giúp Việt Nam lần đầu tiên đạt sản lượng ở mức cao nhất từ trước tới nay là 42,31 triệu tấn vào năm 2011. Theo tính toán tạm thời đến tháng 11 năm 2012 nước ta đã thu hoạch được 39,2 triệu tấn. Từ năm 1989, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo đứng hàng thứ hai trên thế giới. Sản lượng lúa gạo Việt Nam đã đạt tới 32,9 triệu tấn suốt từ năm 2000 đến 2002 và lượng gạo xuất khẩu hàng năm khoảng 3,5 triệu tấn.

Năm 2009 lần đầu tiên Việt Nam đạt 6,05 triệu tấn gạo xuất khẩu. Sản lượng xuất khẩu đó không những được duy trì mà còn tăng liên tiếp trong năm 2010 (6,75 triệu tấn) và năm 6 2011 (7,1 triệu tấn). Tính đến thời điểm tháng 11/2012 nước ta đã xuất được 7,26 triệu tấn. Sản lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam đã cung cấp lương thực cho 120 nước trên toàn thế giới (Đoàn Mạnh Tường, 2012).

Khác với các nước khác trong khu vực, sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa gạo của Việt Nam nói riêng đã phát triển một cách vượt bậc, ổn định và nhanh chóng. Sản xuất và xuất khẩu lúa gạo đã giúp cải thiện thu nhập và nâng cao đời sống của nông dân, bên cạnh đó đã nâng cao giá trị hạt gạo của Việt Nam và thúc đẩy ngành nông nghiệp của nước nhà ngày càng phát triển. Với kết quả trên, Việt Nam đã nhận được sự đánh giá rất cao của các tổ chức quốc tế và khách hàng nhập khẩu gạo của chúng ta (Bộ NN và PTNT, 2012).3 Tình hình diễn biến khí hậu thế giới và Việt Nam Trong thế kỷ XX, trên khắp các châu lục và đại dương, nhiệt độ có xu thế tăng rõ rệt. Độ lệch tiêu chuẩn của nhiệt độ trung bình toàn cầu là 0,24oC, sai khác lớn nhất giữa hai năm liên tiếp là 0,29oC (giữa năm 1976 và 1977), tốc độ của xu thế biến đổi nhiệt độ cả thế kỷ là 0,75oC, nhanh hơn bất kỳ thế kỷ nào trong lịch sử, kể từ thế kỷ XI đến nay.

Vào 5 thập kỷ gần đây 1956 - 2005, nhiệt độ tăng 0,64 ± 0,13 oC, gấp đôi mức tăng của cả thế kỷ XX.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận Văn Thạc Sĩ: Xác Định Chỉ Thị Phân Tử SSR Liên Kết Gen Chịu Nóng Ứng Dụng Chọn Tạo Giống Lúa là một nghiên cứu chuyên sâu về việc sử dụng chỉ thị phân tử SSR để xác định các gen liên quan đến khả năng chịu nhiệt ở cây lúa. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cơ sở khoa học cho việc chọn tạo giống lúa chịu nhiệt mà còn mở ra hướng đi mới trong việc cải thiện năng suất và chất lượng lúa trong điều kiện biến đổi khí hậu. Đây là tài liệu hữu ích cho các nhà nghiên cứu, sinh viên và những người quan tâm đến lĩnh vực nông nghiệp bền vững.

Để mở rộng kiến thức về các biện pháp kỹ thuật trong nông nghiệp, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ nông nghiệp điều tra nghiên cứu biện pháp kỹ thuật tổng hợp trong canh tác hồ tiêu piper nigrum l theo hướng bền vững tại đăk lăk. Nếu quan tâm đến các nghiên cứu về cải thiện năng suất cây trồng, Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bón phân cho cà phê vối coffea canephora pierre giai đoạn kinh doanh trên đất bazan tại đắk lắk là tài liệu đáng đọc. Ngoài ra, Luận án ts quyết định lựa chọn sản xuất chè theo tiêu chuẩn thực hành nông nghiệp tốt của hộ nông dân tại vùng trung du miền núi phía bắc cũng cung cấp góc nhìn sâu sắc về sản xuất nông nghiệp bền vững.