Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON 1. KHÁI NIỆM XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON 1. Khái quát về cha, mẹ, con và quan hệ cha, mẹ, con Mỗi ngƣời luôn có một ngƣời cha và một ngƣời mẹ. Quy tắc này đã có giá trị ngang với một định đề toán học, trong suốt thời kỳ mà sự sinh sản diễn ra một cách tự nhiên, cho đến khi khoa học giới thiệu các phƣơng pháp sinh sản nhân tạo.
Lai lịch của cha mẹ của một ngƣời là một phần lai lịch của bản thân ngƣời đó. Trong đa số trƣờng hợp, con biết nguồn gốc của cha và mẹ của mình; nhƣng cũng có trƣờng hợp con không biết hoặc không biết rõ. Song, dù biết hay không, sự tồn tại của cha và mẹ là chắc chắn, ở một điểm nào đó trong không gian và thời gian nhất định. Quan hệ cha - mẹ - con là mối liên hệ pháp lý giữa một ngƣời (gọi là con) và một ngƣời khác (gọi là cha hoặc mẹ).
Một sự kiện tự nhiên, thuần túy đƣợc luật ghi nhận và chi phối, nên trở thành một sự kiện pháp lý. Để tìm hiểu về mối quan hệ cha, mẹ, con, trƣớc hết ta phải tìm hiểu về khái niệm cha, mẹ và con. Theo đó, cha là “người đàn ông có con, trong quan hệ với con” [22, tr130]; mẹ là “người đàn bà có con, trong quan hệ với con” [22, tr626]. Đây là một khái niệm rộng, nếu chỉ đƣa ra khái niệm nhƣ vậy thì “cha mẹ” sẽ bao gồm cả cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi [12, tr8].
Dƣới góc độ pháp lý, khái niệm cha, mẹ, con luôn gắn liền với những sự kiện pháp lý nhất định. Quan hệ giữa cha mẹ và con về mặt pháp lý chỉ đƣợc phát sinh khi đƣợc sự chứng nhận của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền. Về nguyên tắc, ngƣời cha, ngƣời mẹ, ngƣời con về mặt sinh học sẽ đƣơng nhiên trùng với ngƣời cha, ngƣời mẹ về mặt pháp lý vì mối quan hệ này có xuất phát điểm là sự kiện sinh đẻ để nhằm đảm bảo tính huyết hệ tự nhiên giữa hai thế hệ sinh ra kế tiếp nhau. Tuy nhiên với trƣờng hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trợ sinh sản thì ngƣời cha, ngƣời mẹ, ngƣời con về mặt sinh học có thể không trùng với ngƣời cha, ngƣời mẹ, ngƣời con về mặt pháp lý.
Một vấn đề đặt ra là hệ thống pháp luật cần thiết phải có cơ chế điều chỉnh phù hợp để ngƣời cha, ngƣời mẹ, ngƣời con về mặt pháp lý gần nhất với ngƣời cha, ngƣời mẹ, ngƣời con về mặt sinh học. Nhƣ vậy, dƣới góc độ pháp lý, cha đẻ, mẹ đẻ trong mối quan hệ với con, là ngƣời trực tiếp sinh ra con, có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Con đẻ, trong mối quan hệ với cha mẹ, là ngƣời đƣợc cha mẹ sinh ra, có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật [12, tr9]. Riêng với khái niệm con, dƣới góc độ pháp lý, còn đƣợc nghiên cứu dƣới các trƣờng hợp đặc biệt, có ảnh hƣởng trực tiếp tới vấn đề xác định cha, mẹ, con nhƣ sau: Khái niệm “con trong giá thú” và “con ngoài giá thú”.
Theo đó, Con trong giá thú là con của những ngƣời là vợ chồng hợp pháp. Do có sự kiện sinh đẻ nên thông thƣờng ngƣời ta đã xác định đƣợc mẹ cho con. Nếu ngƣời mẹ sinh con trong thời kỳ hôn nhân hoặc ngƣời mẹ có thai đứa con đó trong thời kỳ hôn nhân thì chồng của mẹ đứa trẻ là cha của đứa trẻ. Thời kỳ hôn nhân đƣợc tính từ khi nam nữ kết hôn cho đến khi hôn nhân chấm dứt do vợ chồng ly hôn hoặc do một bên chết.
Đứa trẻ đƣợc xác định là thụ thai trong thời kỳ hôn nhân nếu nó đƣợc sinh ra trong vòng 300 ngày, kể từ ngày ngƣời chồng chết hoặc kể từ ngày bản án, quyết định của Toà án cho vợ chồng ly hôn có hiệu lực pháp luật. Con ngoài giá thú là con mà cha mẹ nó không phải là vợ chồng hợp pháp. Còn con sinh ra trong mối quan hệ chung sống nhƣ vợ chồng (có giá trị pháp lý) là “con trong giá thú” khi cha mẹ của ngƣời đó đăng ký kết hôn hoặc quan hệ giữa cha mẹ đƣợc thừa nhận bằng một bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án. Con ngoài giá thú thƣờng do ngƣời mẹ không có chồng sinh ra hoặc tuy ngƣời mẹ đang có chồng nhƣng ngƣời chồng đã chứng minh trƣớc Toà án rằng ngƣời con đó không phải là con của họ.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khái niệm “con chung” và “con riêng”: “Con chung” là con mà vợ chồng đƣợc xác định là cha mẹ của ngƣời con đó.“Con riêng” là con của một bên vợ chồng trong mối quan hệ với ngƣời chồng hoặc ngƣời vợ của họ. “Con chung” và “con riêng” có thể là con “trong giá thú” hoặc “ngoài giá thú”. “Con riêng” có thể là con đẻ, có thể là con nuôi. Việc xuất hiện các khái niệm cha, mẹ, con đã làm nảy sinh vấn đề về “quan hệ cha, mẹ, con”.
Cha, mẹ, con trƣớc hết là những quan hệ xã hội. Một cách tổng quát, quan hệ cha mẹ - con đƣợc xác định về phƣơng diện xã hội, nhƣ là kết quả của sự hội tụ của ba yếu tố nhỏ: danh xƣng, thái độ và dƣ luận. Danh xƣng: Con của một ngƣời mang họ của ngƣời đó. Thông thƣờng, con sinh ra từ quan hệ hôn nhân mang họ cha; con sinh ra từ quan hệ chung sống nhƣ vợ chồng, khi đƣợc xác định quan hệ cha, con cũng đƣợc mang họ của ngƣời cha.
Cá biệt, có trƣờng hợp những ngƣời có quan hệ hôn nhân hợp pháp hoặc chung sống nhƣ vợ chồng chấp nhận tập tục của cộng đồng dân tộc ít ngƣời mà họ có xuất xứ, theo đó, con sinh ra phải mang họ mẹ. Con của một ngƣời phụ nữ độc thân thƣờng mang họ của chính ngƣời phụ nữ đó. Bằng chứng về việc mang họ có thể là giấy khai sinh hoặc bất kỳ giấy tờ gì khác đƣợc thiết lập một cách chính thức (chứng minh thƣ, hộ chiếu, sổ hộ khẩu, thậm chí lý lịch có xác nhận, bằng cấp, chứng chỉ,. Thái độ: Việc cha, mẹ cƣ xử với tƣ cách đó trong quan hệ với con thể hiện một cách chung nhất qua việc cha mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục, gây dựng tƣơng lai của con.
Việc con cƣ xử với tƣ cách đó trong quan hệ với cha mẹ thể hiện một cách chung nhất qua việc con tỏ ra kính trọng, chăm sóc, nuôi dƣỡng, tuân theo lời khuyên của cha mẹ. Khác với khá nhiều thứ tiếng, tiếng Việt có các từ dùng để xƣng hô cho phép ngƣời thứ ba nhận biết đƣợc quan hệ cha-con, mẹ- con giữa các đƣơng sự. Dƣ luận: Thái độ xử sự của ngƣời thứ ba cũng có tác dụng làm rõ mối quan hệ cha mẹ-con của các đƣơng sự: ông bà gọi cha mẹ đến để góp ý về cách giáo dục con; nhà trƣờng gọi cha mẹ đến để họp bàn về việc học của con; Toà án 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com triệu tập cha mẹ đến để tham gia vào vụ án huỷ hoại tài sản của ngƣời khác mà con chƣa thành niên là thủ phạm;. Trong tất cả những trƣờng hợp đó, ngƣời thứ ba cũng nhƣ quyền lực công cộng thừa nhận tƣ cách của ngƣời tự xƣng là cha hoặc mẹ chỉ trên cơ sở ghi nhận sự hội tụ của những yếu tố xã hội học đặc trƣng của quan hệ ấy giữa các đƣơng sự.
Ngƣời thứ ba cũng nhƣ quyền lực công cộng trong các trƣờng hợp ấy không bao giờ yêu cầu cha mẹ xuất trình bằng chứng đặc thù về quan hệ cha -mẹ-con. Khái niệm, ý nghĩa của việc xác định cha, mẹ, con Khái niệm xác định cha, mẹ, con Muốn tìm hiểu, nghiên cứu phân tích về pháp luật “xác định cha, mẹ, con” trƣớc hết phải hiểu đƣợc nghĩa của từ “xác định” là gì? “Xác định” là khái niệm không mới trong đời sống xã hội cũng nhƣ khoa học nghiên cứu nói chung, “xác định” theo định nghĩa của Từ điển Tiếng Việt, đƣợc hiểu là “ qua nghiên cứu, tìm tòi, biết được rõ ràng, chính xác”. Từ đó có thể hiểu việc xác định cha, mẹ, con chính là việc tìm hiểu, nghiên cứu, để tìm ra nguồn gốc xuất thân của một ngƣời với tƣ cách là con, xác định tƣ cách của một ngƣời trong một mối quan hệ với một đứa trẻ hoặc một ngƣời đã thành niên với tƣ cách ngƣời cha hoặc ngƣời mẹ, một cách rõ ràng và chính xác. Từ điển Luật học đã đƣa ra hai khái niệm: "Xác định cha, mẹ cho con" và "Xác định con cho cha mẹ".
Theo đó xác định cha, mẹ cho con là "định rõ một ngƣời là cha hoặc một ngƣời là mẹ cho con trên cơ sở các quy định của pháp luật". Xác định con cho cha mẹ là "định rõ một ngƣời là con của cha hoặc của mẹ trên cơ sở các quy định của pháp luật". Cách phân chia thành hai khái niệm "xác định cha, mẹ cho con" và "xác định con cho cha, mẹ" là không thật sự cần thiết vì mối quan hệ cha, mẹ và con là mối quan hệ hai chiều, khi xác định đƣợc cha, mẹ cho con thì đồng thời cũng là xác định đƣợc con cho cha, mẹ. Dƣới góc độ sinh học - xã hội: xác định cha, mẹ, con là việc nghiên cứu, tìm kiếm, nhận diện mối quan hệ huyết thống giữa hai thế hệ kế tiếp nhau thông qua sự kiện sinh đẻ [12, tr.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Dƣới góc độ pháp lý: - Với tƣ cách là một sự kiện pháp lý: xác định cha, mẹ, con là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật giữa cha, mẹ và con về mặt huyết thống [12, tr. - Với tƣ cách là một quan hệ pháp luật: xác định cha, mẹ, con là các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tìm kiếm, nhận diện tƣ cách cha, mẹ, con về mặt huyết thống của các chủ thể đƣợc các qui phạm pháp luật điều chỉnh [12, tr. - Với tƣ cách là một chế định pháp lý, xác định cha, mẹ, con là tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nƣớc ban hành, quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, căn cứ và thủ tục pháp lý nhằm nhận diện một ngƣời cha, một ngƣời mẹ, một ngƣời con có mối quan hệ huyết thống trực hệ [12, tr. Đây là khái niệm vừa mang tính khái quát cao, toàn diện, vừa thể hiện đƣợc mối liên hệ gắn kết giữa cha mẹ và con trên cơ sở huyết thống và sự kiện sinh đẻ.