Luận văn ThS VNU-UET: Vật liệu tổ hợp nano sắt điện-sắt từ dạng lõi-vỏ

Nghiên cứu tổng hợp và khảo sát tính chất vật liệu tổ hợp nano sắt điện sắt từ, ứng dụng trong lĩnh vực vật liệu và linh kiện nano.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2012

72
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Một số đặc trưng của vật liệu sắt điện

1.2. Vật liệu sắt điện

1.3. Độ phân cực tự phát

1.4. Sự phân cực của perovskite sắt điện

1.5. Hiện tượng điện trễ - Cấu trúc đômen

1.6. Vật liệu có cấu trúc perovskite

1.7. Cấu trúc vật liệu BaTiO3

1.8. Ứng dụng của hạt nano BaTiO3

1.9. Vật liệu sắt từ

1.10. Cấu trúc tinh thể của Fe3O4

1.11. Tính chất từ

1.12. Ứng dụng của hạt nano từ Fe3O4

1.13. Vật liệu đa pha sắt (multiferroics)

1.14. Vật liệu tổ hợp đơn pha

1.15. Vật liệu tổ hợp đa pha

2. CHƯƠNG 2: CHẾ TẠO VÀ KHẢO SÁT CÁC TÍNH CHẤT ĐẶC TRƯNG

2.1. Hóa chất và dụng cụ thí nghiệm

2.2. Dụng cụ và thiết bị

2.3. Tổng hợp BaTiO3

2.4. Tổng hợp Fe3O4

2.5. Tổng hợp vật liệu tổ hợp Fe3O4/BaTiO3 và BaTiO3/Fe3O4

2.6. Tổng hợp vật liệu tổ hợp BaTiO3/Fe3O4

2.7. Tổng hợp vật liệu tổ hợp Fe3O4/BaTiO3

2.8. Các phương pháp khảo sát tính chất

2.8.1. Phương pháp nhiễu xạ tia X

2.8.2. Phương pháp từ kế mẫu rung

2.8.3. Kính hiển vi điện tử quét SEM

2.8.4. Kính hiển vi điện tử truyền qua (TEM)

2.8.5. Phương pháp xác định hằng số điện môi

2.8.6. Phương pháp xác định các thông số của vật liệu sắt điện

2.8.7. Hệ đo phân bố kích thước hạt - máy LB-550

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Chế tạo vật liệu lõi

3.2. Chế tạo vật liệu BaTiO3

3.3. Chế tạo vật liệu Fe3O4

3.4. Chế tạo vật liệu tổ hợp

3.5. Vật liệu tổ hợp BaTiO3-Fe3O4

3.6. Vật liệu tổ hợp Fe3O4-BaTiO3

3.7. So sánh hai vật liệu tổ hợp định hướng cấu trúc lõi-vỏ BaTiO3-Fe3O4 và Fe3O4-BaTiO3

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

MỞ ĐẦU

KẾT LUẬN

Tóm tắt

I. Tổng quan về luận văn thạc sĩ VNU UET về vật liệu nano

Luận văn thạc sĩ VNU UET nghiên cứu về vật liệu tổ hợp cấu trúc nano sắt điện-sắt từ dạng lõi-vỏ. Nghiên cứu này không chỉ mở ra hướng đi mới trong lĩnh vực vật liệu nano mà còn giải quyết những thách thức trong việc phát triển các linh kiện điện tử hiệu suất cao. Vật liệu nano đang trở thành xu hướng trong nghiên cứu khoa học và công nghệ, đặc biệt là trong lĩnh vực điện tử và y sinh.

1.1. Định nghĩa và ứng dụng của vật liệu nano

Vật liệu nano được định nghĩa là các vật liệu có kích thước từ 1 đến 100 nanomet. Chúng có những tính chất độc đáo như độ bền cao, khả năng dẫn điện tốt và tính chất quang học đặc biệt. Các ứng dụng của vật liệu nano rất đa dạng, từ chế tạo linh kiện điện tử đến y sinh, quang học và xúc tác.

1.2. Tầm quan trọng của vật liệu tổ hợp trong nghiên cứu

Vật liệu tổ hợp, đặc biệt là vật liệu sắt điện-sắt từ, có khả năng kết hợp các tính chất của hai loại vật liệu khác nhau, từ đó tạo ra những tính năng mới. Điều này giúp mở rộng khả năng ứng dụng trong các lĩnh vực như cảm biến, bộ nhớ và linh kiện điện tử tiêu thụ ít năng lượng.

II. Thách thức trong nghiên cứu vật liệu tổ hợp nano

Mặc dù vật liệu tổ hợp nano có nhiều tiềm năng, nhưng việc tổng hợp và khảo sát tính chất của chúng vẫn gặp nhiều thách thức. Các vấn đề như độ đồng nhất, kích thước hạt và tính ổn định của vật liệu là những yếu tố quan trọng cần được giải quyết.

2.1. Độ đồng nhất và kích thước hạt

Độ đồng nhất của vật liệu tổ hợp ảnh hưởng trực tiếp đến tính chất điện và từ của chúng. Kích thước hạt không đồng đều có thể dẫn đến sự phân tán không đồng nhất trong các ứng dụng thực tiễn, làm giảm hiệu suất của linh kiện.

2.2. Tính ổn định của vật liệu tổ hợp

Tính ổn định của vật liệu tổ hợp là một yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo hiệu suất lâu dài của các linh kiện. Các yếu tố như nhiệt độ, độ ẩm và môi trường xung quanh có thể ảnh hưởng đến tính chất của vật liệu, do đó cần có các phương pháp kiểm soát và bảo quản hợp lý.

III. Phương pháp tổng hợp vật liệu tổ hợp nano hiệu quả

Phương pháp tổng hợp vật liệu tổ hợp nano đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển các sản phẩm mới. Nghiên cứu này sử dụng phương pháp thủy phân nhiệt để tổng hợp vật liệu sắt điện-sắt từ, mang lại nhiều ưu điểm vượt trội.

3.1. Phương pháp thủy phân nhiệt

Phương pháp thủy phân nhiệt cho phép kiểm soát tốt các điều kiện phản ứng, từ đó tạo ra các hạt nano đồng nhất với kích thước nhỏ. Phương pháp này cũng giúp tăng cường độ tinh khiết của sản phẩm, giảm thiểu tạp chất trong quá trình tổng hợp.

3.2. So sánh với các phương pháp khác

So với các phương pháp như lắng đọng nhiệt hay đồng kết tủa, thủy phân nhiệt có nhiều ưu điểm như dễ dàng kiểm soát nhiệt độ và áp suất, từ đó tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao hơn. Điều này giúp nâng cao hiệu suất của vật liệu trong các ứng dụng thực tiễn.

IV. Khảo sát tính chất của vật liệu tổ hợp nano

Khảo sát tính chất của vật liệu tổ hợp nano là bước quan trọng để đánh giá hiệu suất và khả năng ứng dụng của chúng. Các tính chất điện và từ của vật liệu được nghiên cứu kỹ lưỡng để xác định khả năng ứng dụng trong các linh kiện điện tử.

4.1. Tính chất điện của vật liệu tổ hợp

Tính chất điện của vật liệu tổ hợp được xác định thông qua các thí nghiệm như đo điện trở, độ phân cực và hằng số điện môi. Những thông số này giúp đánh giá khả năng hoạt động của vật liệu trong các ứng dụng điện tử.

4.2. Tính chất từ của vật liệu tổ hợp

Tính chất từ của vật liệu tổ hợp được khảo sát thông qua các phương pháp như từ kế mẫu rung. Các thông số như độ từ hóa và lực kháng từ được xác định để đánh giá khả năng ứng dụng trong các thiết bị từ tính.

V. Kết luận và triển vọng nghiên cứu vật liệu tổ hợp nano

Nghiên cứu về vật liệu tổ hợp nano sắt điện-sắt từ dạng lõi-vỏ mở ra nhiều triển vọng trong việc phát triển các linh kiện điện tử hiệu suất cao. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc tối ưu hóa các điều kiện tổng hợp có thể cải thiện đáng kể tính chất của vật liệu.

5.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng vật liệu tổ hợp nano có tính chất điện và từ vượt trội so với các vật liệu đơn pha. Điều này mở ra hướng đi mới cho việc phát triển các linh kiện điện tử tiêu thụ ít năng lượng.

5.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Hướng nghiên cứu trong tương lai có thể tập trung vào việc tối ưu hóa quy trình tổng hợp và khảo sát thêm các tính chất khác của vật liệu tổ hợp. Việc phát triển các ứng dụng mới trong lĩnh vực y sinh và quang học cũng là một hướng đi tiềm năng.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu uet thử nghiệm tổng hợp và khảo sát tính chất của vật liệu tổ hợp cấu trúc nano sắt điện sắt từ dạng lõi vỏ luận văn ths vật liệu và linh kiện nano

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 - Tổng quan 1. Một số đặc trưng của vật liệu sắt điện Vật liệu sắt điện được định nghĩa là vật liệu mà cấu trúc của nó có chứa các tâm điện tích dương và tâm các điện tích âm không trùng nhau và có độ phân cực điện tự phát ngay cả khi không có điện trường ngoài, và trở nên hưởng ứng mạnh dưới tác dụng của điện trường ngoài. Trong vật liệu sắt điện, các mômen lưỡng cực điện tương tác với nhau, tạo lên sự khác biệt so với các chất điện môi khác. Trong một vùng (miền) nhỏ, độ phân cực điện tồn tại ngay cả khi không có điện trường ngoài, nhưng trên toàn vật liệu mômen lưỡng cực điện tổng cộng có giá trị bằng 0, do sự định hướng hỗn loạn dưới tác dụng của nhiệt độ.

Ở 0K các mômen lưỡng cực điện song song với nhau, tạo nên độ phân cực tự phát. Năm 1920, lần đầu tiên Valasek đã phát hiện ra tính chất sắt điện trên muối Rochelle. Về mặt cấu trúc tinh thể, vật liệu sắt điện khá giống với vật liệu hoả điện tức là có cùng nhóm đối xứng điểm, chỉ có một trục phân cực và không có mặt đối xứng nào vuông góc với trục phân cực. Cấu trúc tinh thể của vật liệu sắt điện thường có tính đối xứng cao và trong tinh thể xảy ra những sự phá vỡ đối xứng nhỏ, điển hình là cấu trúc perovskite, khiến cho tâm của hệ các điện tích âm và hệ các điện tích dương không trùng nhau, từ đó độ phân cực có thể bị đảo chiều dưới tác dụng của điện trường ngoài.

Sự chuyển dời có cực của các ion trong ô cơ sở gây ra sự phá vỡ tính đối xứng trong cấu trúc của vật liệu sắt điện. Đại lượng đặc trưng cho mức độ phân cực của vật liệu sắt điện là véctơ phân cực  điện P , còn gọi là độ phân cực điện. Độ phân cực điện là tổng các véctơ mômen lưỡng cực của các phân tử trong một đơn vị thể tích của khối điện môi.1) trong đó là véctơ phân cực điện ( C m 2 ), là véctơ mômen lưỡng cực điện trên đơn vị thể tích vi (i=1, 2, .), V là tổng các thể tích vi.  Độ phân cực điện tỉ lệ với cường độ điện trường ngoài E : (1.2) trong đó χ là độ cảm điện môi, εo = 8,86.N-1m-2) là hằng số điện môi trong chân không.

Dưới tác dụng của điện trường ngoài, độ phân cực điện của vật liệu sắt điện sẽ thay đổi cả về hướng và độ lớn. Sự phụ thuộc của độ phân cực điện vào điện trường ngoài được thể hiện bằng đường cong điện trễ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Vật liệu sắt điện 1.

Độ phân cực tự phát  Các cơ chế phân cực: Độ phân cực tự phát được định nghĩa là giá trị mômen lưỡng cực điện trên một đơn vị thể tích, hoặc là giá trị của điện tích trên một đơn vị diện tích bề mặt vuông góc với trục của phân cực tự phát. Trục phân cực tự phát thường là các trục tinh thể. Bản thân các tính chất điện liên quan rất mạnh đến cấu trúc tinh thể. Nhìn chung, các tinh thể có trục cực đều tồn tại hiệu ứng áp điện.

Mô hình cấu trúc mạng tinh thể vật liệu sắt điện BaTiO3 với tâm các điện tích âm và điện tích dương không trùng nhau Mọi phân tử trong chất điện môi đều trung hoà điện: Tổng các điện tích âm của các điện tử và điện tích dương của các hạt nhân nguyên tử bằng không. Nếu các điện tích dương có các tọa độ tương ứng là x+, y+, z+ thì cũng có thể định nghĩa “trọng tâm” chung của các điện tích dương G+ với tọa độ X+, Y+, Z+. Tương tự, trong toạ độ “trọng tâm” chung của tất cả các điện tích âm G- với tạo độ X-, Y- Z-. Do chuyển động nhiệt, toạ độ của các điện tích riêng rẽ cũng như tạo độ của các “trọng tâm” G+ và G- thay đổi theo thời gian.

Trong trường hợp này, ta cần xem xét vị trí trung bình của chúng [1]. Nếu vị trí trung bình <G-> và <G+> của hai tâm điện trùng nhau, phân tử được xem như không phân cực. Ngược lại, nếu vị trí trung bình bình <G-> và <G+> của hai tâm điện không trùng nhau, phân tử được coi là phân cực. Khi đó, các phân tử mang một mômen lưỡng cực tự phát hay độ phân cực tự phát.

Có 5 cơ chế phân cực cơ bản sau [38]: - Phân cực điện tử cảm ứng: Phân cực điện tử cảm ứng tồn tại trong phần lớn các vật liệu điện môi. Nó dựa trên sự dịch chuyển của các điện tử tích điện âm bên ngoài đến các điện tích dương bên trong. Phân cực điện tử cảm ứng αel tỉ lệ với thể tích của lớp vỏ điện tử. Do đó, nhìn chung nó phụ thuộc vào nhiệt độ, và các nguyên tử kích thước lớn sẽ có phân cực điện tử cảm ứng lớn.

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 - Phân cực ion cảm ứng: Phân cực ion cảm ứng được quan sát trong các tinh thể ion và được miêu tả là một sự chuyển dịch của các siêu mạng tích điện dương và các siêu mạng tích điện âm dưới tác dụng của một điện trường ngoài đặt vào. - Phân cực định hướng: Phân cực định hướng được miêu tả là sự sắp xếp của các phân tử lưỡng cực. Ở điều kiện thường, tất cả các mômen lưỡng cực định hướng hỗn loạn. Khi có điện trường ngoài tác dụng, các mômen định hướng lại theo điện trường ngoài.

Điện trường ngoài càng lớn thì sự định hướng càng mạnh. Trong trường hợp này, độ phân cực được tính bằng công thức sau: P = NpoL(a) (1.3) Trong đó N là số phân tử của hệ, po mômen của một lưỡng cực điện, L(a) là hàm Langevin. Giá trị trung bình của phân cực định hướng được đưa ra bằng hàm Langevin : (1.4) Trong đó kB là hằng số Boltzman và T là nhiệt độ tuyệt đối. - Phân cực không gian tích điện: Phân cực không gian tích điện có thể tồn tại trong vật liệu điện môi mà có không gian không đồng nhất của mật độ các hạt tải.

Hiệu ứng phân cực không gian tích điện không chỉ quan trọng trong các thiết bị bán dẫn hiệu ứng trường mà nó còn xảy ra trong vật liệu gốm mà có các hạt dẫn điện và các bờ biên hạt không dẫn điện. Nó thường được gọi là sự phân cực Maxcell – Wagner. - Phân cực vách đômen: Phân cực vách đômen đóng vai trò quyết định trong vật liệu sắt điện và các vật liệu điện môi nói chung. Sự chuyển động của một vách đômen nằm giữa các vùng phân cực định hướng khác nhau cho thấy sự định hướng các đômen liên quan tới trường thế đặt vào.

Độ phân cực tổng của toàn bộ vật liệu là kết quả sự đóng góp của các loại cơ chế phân cực kể trên. Sự đóng góp từ mạng tinh thể được gọi là sự đóng góp nội, ngược lại là sự đóng góp ngoại.5) Do đó, mỗi thành phần đóng góp vào độ phân cực của vật liệu, xuất phát từ sự dịch chuyển của điện tích trong khoảng cách ngắn mà liên quan tới điện trường đặt vào trong những khoảng thời gian khác nhau, thông qua một biến đổi Fourier đưa đến các tần số khác nhau (hình 1. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Sự phụ thuộc vào tần số của các thành phần đóng góp vào độ phân cực tự phát của vật liệu [38] 1.

Sự phân cực của perovskite sắt điện Do sự cạnh tranh giữa lực đẩy Pauli và lực hút Coulomb giữa ion O2- ở đỉnh bát diện và ion B4+ ở hốc bát diện của vật liệu perovskite sắt điện, nên xuất hiện một cực tiểu năng lượng (hố thế). Xét tương tác của ion B4+ với một ion O2- khác nằm ở phía đối diện với ion O2- đã xét thì cũng xuất hiện một hố thế khác. Hai hố thế này không trùng khít và nằm về hai phía của tâm điện tích của hai ion O2- trên. Ion B4+ có thể nằm tại một trong hai hố thế trên và cả hai hố thế này đều không là tâm điện tích âm, do đó xuất hiện một lưỡng cực điện tự phát P trong vật liệu.

Do hàng rào thế giữa hai hố thế trên cỡ một vài eV, nên phân cực điện này rất bền vững ngay cả khi có điện trường ngoài tác dụng. Chiều cao của hàng rào thế tỉ lệ với khoảng cách giữa các ion O2- nằm trên các đỉnh của khối bát diện  Hiện tượng phân cực tự phát liên quan chặt chẽ tới chuyển pha cấu trúc. Ví dụ với vật liệu perovskite BaTiO3, tại nhiệt độ lớn hơn 120°C thì BaTiO3 có cấu trúc lập phương (hình 1. Lúc này cấu trúc là xếp chặt hoàn hảo nên không có sự phân cực tự phát trong ô mạng.

Khi nhiệt độ giảm xuống dưới 120°C, BaTiO3 có 3 pha cấu trúc khác. Bằng phương pháp nhiễu xạ neutron, các nhà khoa học đã xác định được độ dịch chuyển của các ion trong ô mạng BaTiO3. Chính sự dịch chuyển này đã làm thay đổi sự phân bố các ion trong mạng BaTiO3, từ đó tạo nên sự nén mạng và chuyển pha cấu trúc từ lập phương sang tứ phương. Như vậy, độ linh động lớn của Ti (các tâm ion B4+) trong khối bát diện oxy là nguyên nhân dẫn đến hiện tượng phân cực tự phát trong BaTiO3.

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Pha cấu trúc và phân cực tự phát BaTiO3 1. Hiện tượng điện trễ - Cấu trúc đômen a) Hiện tượng điện trễ Dưới tác dụng của điện trường ngoài, độ phân cực tự phát trong vật liệu sắt điện sẽ thay đổi cả về độ lớn và hướng. Tính chất đặc trưng này của vật liệu sắt điện được thể hiện bằng đường cong điện trễ mô tả sự phụ thuộc của độ phân cực điện của vật liệu vào cường độ điện trường ngoài (xem hình 1.

Đường cong điện trễ của vật liệu sắt điện Đường cong điện trễ P-E cho các thông tin sau về vật liệu: độ phân cực bão hòa Ps , độ phân cực dư Pr , lực kháng điện Ec. Qua đường cong điện trễ, ta thấy độ phân cực không tỉ lệ bậc nhất với cường độ điện trường ngoài. Do đó, độ cảm điện môi χ và hằng số điện môi ε không phải là hằng số mà phụ thuộc vào cường độ điện trường ngoài. b) Cấu trúc đômen của vật liệu sắt điện Trong một tinh thể sắt điện, véctơ phân cực tự phát có thể cùng chiều hoặc ngược chiều với trục phân cực của tinh thể và tồn tại những vùng mà tại đó véctơ phân cực điện song song cùng chiều với nhau và không song song cùng chiều với véctơ phân cực điện ở vùng liền kề.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ