MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Chúng ta đang sống trong một thế kỉ hiện đại, thế kỉ của tri thức con ngƣời và công nghệ quyết định đến sự phát triển của xã hội. Để đáp ứng đƣợc nhu cầu ngày càng cao của xã hội thì nguồn lực về con ngƣời là vô cùng quan trọng, do vậy yêu cầu đặt ra cho ngành giáo dục là phải đào tạo ra những con ngƣời có đủ các phẩm chất, năng lực (NL), sáng tạo, phát triển toàn diện để đáp ứng nhu cầu phát triển ngày càng cao của xã hội. Muốn vậy đòi hỏi ngành giáo dục phải có sự thay đổi một cách toàn diện về mục tiêu, nội dung, phƣơng pháp dạy học theo tính phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo và phát huy đƣợc năng lực phẩm chất của học sinh (HS).
Từ những lý do trên tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Xây dựng các thành tố và đường phát triển năng lực Vật lí của học sinh trong dạy học môn Vật Lí ở trường trung học phổ thông”. Nghiên cứu này sẽ đề cập đến một số vấn đề liên quan đến xây dựng cấu trúc năng lực, thiết lập đƣờng phát triển năng lực dọc theo quy trình giáo dục phổ thông (GDPT) và cách tiếp cận đƣa năng lực vào nội dung môn học. Mục đích nghiên cứu của đề tài - Nhằm đƣa ra những cấu trúc, thành tố của năng lực trong chƣơng trình mới có đáp ứng đƣợc mức độ phát triển năng lực cho ngƣời học không. Nhiệm vụ nghiên cứu - Xây dựng đƣợc cấu trúc, thành tố năng lực Vật lí ở cấp THPT - Xây dựng đƣợc cấp độ và đƣờng phát triển của năng lực - Xây dựng cấu trúc năng lực và mức độ phát triển năng lực Vật lí cho chủ đề “Năng lƣợng và cuộc sống”.
Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu 4. Khách thể nghiên cứu 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Dự thảo chƣơng trình Vật lí THPT mới ra của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD & ĐT) 4. Đối tượng nghiên cứu - Từ nội dung kiến thức của Bộ GD & ĐT đã đƣa ra, xây dựng cấu trúc và thành tố của năng lực phù hợp với từng nội dung tƣơng ứng. Phạm vi nghiên cứu - Chƣơng trình Vật lí THPT lớp 10,11 và lớp 12.
Phƣơng pháp nghiên cứu - Thu thập tài liệu tiến hành đọc, phân tích, tổng hợp khái quát hóa các nguồn tài liệu lý luận có liên quan đến hình thành phát triển năng lực và tích hợp trong môn học Vật lí tại trƣờng THPT. - Các tài liệu trên đƣợc nhận xét, phân tích, trích dẫn và tóm tắt phục vụ trực tiếp cho việc giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu. Những đóng góp mới về luận án 7. Mặt lí luận - Xây đựng đƣợc các hành vi năng lực Vật lí của học sinh theo chƣơng trình Vật lí THPT mới nhất của bộ.
- Góp phần xây dựng các mức độ chỉ báo hành vi của học sinh theo chƣơng trình Vật lí THPT mới. - Xây dựng đƣờng phát triển năng lực nhận thức, tìm hiểu, vận dụng của chƣơng trình Vật lí THPT mới nhất của bộ. Mặt thực tiễn - Xây dựng đƣợc các mức độ chỉ báo năng lực Vật lí, hành vi của học sinh theo chủ đề “Năng lƣợng và cuộc sống”. Cấu trúc của luận văn.
Phần nội dung của luận án gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 2: Xây dựng cấu trúc và đƣờng phát triển năng lực Vật lí trong chƣơng trình Vật lí trung học phổ thông Chƣơng 3: Xây dựng cấu trúc năng lực Vật lí cho chủ đề “Năng lƣợng và cuộc sống” 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ XÂY DỰNG CÁC THÀNH TỐ VÀ CẤU TRÚC NĂNG LỰC 1. Các nghiên cứu ở trên thế giới. Trong những năm gần đây việc tích hợp chặt chẽ ba lĩnh vực cơ bản gồm chƣơng trình giáo dục, giảng dạy và đánh giá, báo cáo và quản lí giáo dục, đào tạo giáo viên đƣợc đặc biệt quan tâm ở nhiều quốc gia trên thế giới. Nhƣ vậy, không chỉ các chuyên gia xây dựng chƣơng trình (CT) tiếp cận phát triển năng lực mà các giáo viên, tác giả biên soạn sách giáo khoa cũng cần hiểu cách thức xây dựng chuẩn đánh giá năng lực của chƣơng trình, cách đánh giá năng lực ngƣời học để thiết lập các hoạt động can thiệp sƣ phạm trong mỗi bài học ở sách giáo khoa dựa theo chuẩn đánh giá của chƣơng trình.
Xu hƣớng chung của các nƣớc hiện nay là chuyển đổi từ CT theo định hƣớng nội dung (content-based approach) thành CT theo định hƣớng năng lực. CT theo định hƣớng phát triển NL không chỉ đảm bảo đƣợc kết quả đào tạo mà còn tiết kiệm thời gian, nguồn lực trong đào tạo, đồng thời giảm đƣợc áp lực làm việc, áp lực học hành đối với những ngƣời dạy và ngƣời học. Hiện nay với sự phát triển nhanh chóng về khoa học kĩ thuật cũng nhƣ tri thức, trọng tâm của giáo dục truyền thống vào nội dung kiến thức đã không còn phù hợp, giáo dục trên thế giới cải cách theo xu hƣớng giảng dạy và đánh giá theo năng lực. Giảng dạy theo năng lực chủ đề thu hút đƣợc rất nhiều sự quan tâm của các nhà giáo dục và các nhà nghiên cứu cũng nhƣ cả xã hội.
Trên thế giới nhiều nền giáo dục đã xây dựng và áp dụng rất thành công chƣơng trình giáo dục theo năng lực để cho ngƣời học sau khi tốt nghiệp ra trƣờng có thể làm chủ đƣợc kĩ thuật và kiến thức đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trƣờng lao động và nhu cầu của xã hội. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các nghiên cứu ở trong nước Theo hƣớng phát triển và hội nhập quốc tế hiện nay, nền giáo dục nƣớc ta cũng đang trong tiến trình đổi mới, toàn diện giáo dục và đào tạo. Giáo dục Việt Nam đã và đang chuyển biến đổi mới mạnh mẽ trên nhiều phƣơng diện.
Bên cạnh việc đổi mới nội dung, phƣơng pháp dạy học thì chƣơng trình dạy học cũng rất đƣợc quan tâm. Trong dạy học vật lí ở các trƣờng THPT nhằm theo kịp các hệ thống giáo dục tiên tiến trên thế giới, hệ thống giáo dục Việt Nam cũng đang từng bƣớc thay đổi từ giáo dục theo nội dung kiến thức sang giáo dục theo định hƣớng phát triển năng lực. Hiện tại Việt Nam đã và đang triển khai rất nhiều hoạt động chuyển đổi giáo dục từ nội dung kiến thức sang năng lực trong đó có nhiều đề án, dự án quan trọng ở quy mô quốc gia. Tuy nhiên, để đổi mới một cách toàn diện trên cả nƣớc và áp dụng đƣợc thành công thì cần phải có những nghiên cứu cụ thể về vấn đề này.
Do đó, luận văn này sẽ tập trung phân tích về giáo dục theo năng lực, cụ thể là giảng dạy theo hƣớng phát triển năng lực, các cấu trúc và thành tố của năng lực trong chƣơng trình GDPT mới nhất của Bộ GD & ĐT. Khái niệm năng lực, cách tiếp cận và cấu trúc của năng lực. Khái niệm năng lực Để CT mới thực sự là một CT giáo dục theo định hƣớng phát triển NL, cần làm rõ khái niệm quan trọng là khái niệm năng lực (competency), hình dung đƣợc khung NL chung, khung NL mà mỗi môn học cần hình thành ở HS và con đƣờng phát triển, hình thành những NL ấy, giúp ngƣời biên soạn CT, tác giả sách giáo khoa, cán bộ chỉ đạo và giáo viên trực tiếp đứng lớp hiểu rõ và tiến hành công cuộc đổi mới thành công. Chuyên khảo về khoa học giáo dục “Phƣơng pháp, kĩ thuật xây dựng chuẩn đầu ra NL đọc hiểu và NL giải quyết vấn đề” (2015) đƣa ra định nghĩa về NL nhƣ sau: NL là khả năng kết hợp các kiến thức, kĩ năng (nhận thức và 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thực hành), thái độ, động cơ, cảm xúc, giá trị, đạo đức để thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ trong bối cảnh, tình huống thực tiễn.
Với yêu cầu này thì việc HS chỉ có kiến thức, kĩ năng và thái độ không đƣợc xem nhƣ là có NL mà cả ba yếu tố này phải đƣợc ngƣời học vận dụng trong một tình huống nhất định thì mới phát triển thành NL. Theo Weinert thì “NL của HS là sự kết hợp hợp lí kiến thức, kĩ năng và sự sẵn sàng tham gia để cá nhân hành động có trách nhiệm và biết phê phán tích cực hƣớng tới giải pháp cho các vấn đề” [5]. Với cách hiểu này, NL cũng hàm chứa trong nó tính sẵn sàng ý chí, động cơ, hành động, và trách nhiệm xã hội để HS có thể giải quyết vấn đề trong những tình huống thay đổi. Có thể nhận thấy có điểm chung giữa các quan niệm trên là: NL là khả năng kết hợp kiến thức, kĩ năng, động cơ, thái độ… để giải quyết hiệu quả một nhiệm vụ/tình huống thực tiễn.
Trong luận văn này chúng tôi muốn đề cập đến khái niệm năng lực: “Năng lực là sự tích hợp và kết nối nhu cầu bên ngoài (yêu cầu của bối cảnh, tình huống, với đặc điểm cá nhân (kiến thức, kĩ năng, đạo đức và các giá trị mà anh ta có) để thực hiện thành công nhiệm vụ thực tiễn” [1]. Cách tiếp cận năng lực Mặc dù có nhiều cách trình bày về khái niệm NL khác nhau nhƣng phần lớn các tài liệu nƣớc ngoài và trong nƣớc đều hiểu NL là sự tích hợp của nhiều thành tố nhƣ niềm tin, tri thức, kĩ năng, sự sẵn sàng hoạt động. Hƣớng tiếp cận cấu trúc của NL theo nguồn lực hợp thành. Weinert cho rằng NL gồm ba yếu tố tạo thành là khả năng, thái độ và kĩ năng sẵn sàng tham gia hoạt động của cá nhân.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Lịch sử nhân loại đã có nhiều cách tiếp cận phát triển CT: + Tiếp cận hành vi + Tiếp cận kinh nghiệm học tập + Tiếp cận quản lí hệ thống + Tiếp cận hàn lâm Tiếp cận hành vi: Tiếp cận hành vi là một trong những cố gắng rất lớn của tâm lí học thế giới đầu thế kỉ XX, nhằm khắc phục tính chủ quan trong nghiên cứu các hiện tƣợng tâm lí ngƣời thời đó. Kết quả đã hình thành trƣờng phái có ảnh hƣởng mạnh mẽ đến sự phát triển của tâm lí học Mỹ và thế giới thế kỷ XX, mà đại diện tiêu biểu xuất sắc là các nhà tâm lí học kiệt xuất: J. Skinnơ (1904 –1990) … Trong các công trình của J. Watson, hành vi trí tuệ đƣợc đồng nhất với ngôn ngữ bên trong.
Nhƣ vậy, vấn đề học tập và kĩ xảo đạt đƣợc là trung tâm của tâm lí học hành vi.