Chương 1. Cơ sở lý luận và th ực tiễn quản lý phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ. Thực trạng công tác quản lý phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội. Một số giải pháp quản lý phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ giai đoạn 2012-2020.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài “Quản lý công tác nghiên cứu khoa học”của tác giả K.Deisen, Xlasinxki do Nguyễn Văn Lâm dịch từ bản tiếng Nga, dù tài liệu đã cũ nhưng nộidung có nhiều vấn đề vẫn còn giá trị. Công trình này đã đề cao vai trò của hoạt độngNCKH trong sự phát triển của xã hội và chỉ ra những điểm đáng lưu ý, đó là việc cần xây dựng chính sách ưu tiên đặc biệt về điều kiện làm việc và chế độ đãi ngộ thoả đáng để động viên các nhà khoa học toàn tâm, toàn ý cho việc nghiên cứu [7].
Trong năm 1980, ông Leonar Nadle (Hoa Kỳ) cho rằng “Phát triển nguồn nhân lực của một tập thể lại được xem như là một công cụ quản lý” và ông đã khẳng định “Phát triển nguồn nhân lực là các kinh nghiệm học tập có tổ chức được diễn ra trong những khoảng thời gian nhất định nhằm tăng khả năng cải thiện kết quả thực hiện công việc, tăng khả năng phát triển của tổ chức và cá nhân” [52].Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Xuất phát từ nhận thức đúng đắn về tác động của công tác quản lý đối với hoạt động NCKH , phát triển nguồ n nhân lực KH &CN, trên cơ sở những khó khăn trong quá trình thực hiện tại các trường ĐH và cao đẳng, các nhà khoa học đã có những nghiên cứu với nhiều góc độ, ở nhiều khía cạnh và cấp độ khác nhau. Vũ Tiến Trinh (1991), Viện Nghiên cứu Phát triển giáo dục hoàn thành đề tài: “Nghiên cứu những biện pháp để phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ và lao động sản xuất trong nhà trường”. Đề tài này đã đóng góp những lí luận và giải pháp của công tác quản lý hoạt động KH&CN của ngành GD&ĐT, gắn với đặc điểm tình hình trong giai đoạn đó [74]. Công trình nghiên cứu về “Quản trị nguồn nhân lực” của Trần Kim Dung mới chỉ đề cập chủ yếu về các lý thuyết và kỹ năng quản lý nguồn nhân lực [26].
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Lê Thị Phương Thảo (2007), “Biện pháp cải tiến quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên Trường Đại học Công đoàn” [69]. Đề tài này nhằm đề xuất những biện pháp quản lý cụ thể, phù hợp để hoạt động NCKH của GV Trường ĐH Công đoàn nhằm đạt kết quả cao hơn, góp phần xây dựng và phát triển nhà trường. Nguyễn Kiều Oanh (2007), “Các biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng cán bộ, giảng viên của Đại học Quốc gia Hà Nội” [60]. Đề tài nghiên cứu góp phần cung cấp thêm các cơ sở khoa học và thực tiễn để ĐHQGHN tiếp tục hoàn thiện quy trình tuyển dụng, sử dụng và ĐT-BD đội ngũ cán bộ, GV (đặc biệt là đội ngũ cán bộ KH&CN) nhằm đạt các mục tiêu về đội ngũ cán bộ trong kế hoạch chiến lược phát triển ĐHQGHN đề ra.
Tạp chí Giáo dục gần đây có nhiều nhà khoa học và nhà quản lý giáo dục đăng những công trình nghiên cứu và bài viết về hoạt động NCKH trong GDĐH như: Đỗ Thị Châu (2004), “Nghiên cứu khoa học góp phần đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo đại học” [20]. Nguyễn Phúc Châu (2006), “Logic nội dung và các nhiệm vụ nghiên cứu đề tài khoa học về giải pháp quản lý giáo dục” [21]. Về lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực, một vài năm trước đây đã có một số nghiên cứu được công bố ở trong nước, đó là các công trình: “Phát triển nguồn nhân lực - kinh nghiệm thế giới và thực tiễn Việt Nam” của Trần Văn Tùng và Lê Thị Ái Lâm (1996); “Phát triển nguồn nhân lực thông qua Giáo dục- Đào tạo ở một số nước Đông Á: kinh nghiệm đối với Việt Nam” của Lê Thị Ái Lâm (2003); “Nhân tài trong chiến lược phát triển quốc gia” của Nguyễn Khắc Hưng và Phan Xuân Dũng (2004); “Đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực tài năng - kinh nghiệm của thế giới” của Trần Văn Tùng (2005); “Khảo lược về kinh nghiệm phát hiện, đào tạo và sử dụng nhân tài trong lịch sử Việt Nam” của Phạm Hồng Tung (2005) [68]. Trong lĩnh vực quản lý nhân lực KH&CN, trên thực tế cũng đã xuất hiện nhiều công trình, đề tài nghiên cứu cụ thể: Nguyễn Giao Long (2006), “Đổi mới quản lý nhân lực khoa học và công nghệ - nghiên cứu trường hợp Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam”.
Đề tài đã đi vào 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phân tích, khảo sát thực trạng quản lý nhân lực ở Viện KH&CN Việt Nam, những yếu tố tích cực, đạt được trong quá trình phát triển và những hạn chế còn tồn tại. Nguyễn Duy Hinh (2009), “Nâng cao chất lượng nhân lực khoa học công nghệ của Đại học Quốc gia Hà Nội thông qua đổi mới cơ chế, chính sách tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ” [49]. Đề tài đã phân tích những nguyên nhân dẫn đến hạn chế của công tác tuyển dụng, sử dụng quản lý cán bộ KH&CN từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nhân lực KH&CN ở ĐHQGHN. Nguyễn Thị Hạnh (2010), “Chính sách phát triển nhân lực khoa học và công nghệ để xây dựng Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội” [47].
Đề tài đã đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực KH&CN thích hợp, trong đó chú trọng việc xác định các ngành nghề mũi nhọn, các ngành nghề cần ưu tiên trước mắt, phù hợp với yêu cầu CNH và HĐH, có khả năng đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH của đất nước nói chung cũng như Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội nói riêng. Ngoài ra, còn phải kể đến đó là luận án TS cấp nhà nước của tác giả Trịnh Ngọc Thạch (2008) có tựa đề là “Hoàn thiện mô hình quản lý đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong các trường đại học Việt Nam” [68] hoặc luận án TS cấp nhà nước của tác giả Lê Yên Dung (2010) có tên đề tài: “Mô hình quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học trong đại học đa ngành, đa lĩnh vực” [25]. Hầu hết các công trình nêu trên đều đi sâu phân tích vai trò của nguồn nhân lực đối với phát triển KT-XH đồng thời đưa ra các quan điểm về vai trò của đội ngũ cán bộ, các phương thức ĐT-BD nâng cao trình độ chuyên môn và phẩm chất chính trị của đội ngũ cán bộ, đội ngũ trí thức; qua nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế đã rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc hoạch định các chính sách bồi dưỡng cán bộ; đã làm rõ được công tác quản lý trong việc tổ chứcvà thực hiện các chương trình đào tạo tài năng, chất lượng cao trong các trường ĐH; đề xuất được mô hình quản lý hoạt động NCKH đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Mặt khác, về cơ sở pháp lý, trong các văn bản pháp quy của Nhà nước và chủ trương lãnh đạo của Đảng đã đề cập tới công tác quản lý phát triển nguồn nhân lực KH&CN như: 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -Vấn đề phát triển tiềm lực KH&CN đặc biệt là quản lý phát triển nguồn nhân lực KH&CN là một trong các nhiệm vụ được quy định tại Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Kết luận của Hội nghị lần thứ sáu của Ban Chấp hành TW Đảng khoá IX về KH&CN được ban hành kèm theo Quyết định số 88/2002/ QĐ-TTg ngày 31/12/2002 của Thủ tướng Chính phủ.
- Điểm d, mục 2, khoản II, Điều 1 của Quyết định số 418/QĐ-TTg ngày 11/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chiến lược KH&CN giai đoạn 2011-2020 có ghi: + Đến năm 2015, số cán bộ NCKH và phát triển công nghệ đạt 9-10 người trên một vạn dân, đào tạo và sát hạch theo chuẩn quốc tế 5.000 kỹ sư đủ năng lực tham gia quản lý, điều hành dây chuyền sản xuất công nghệ cao trong các ngành, lĩnh vực ưu tiên phát triển của đất nước. + Đến năm 2020, số cán bộ NCKH và phát triển công nghệ đạt 11-12 người trên một vạn dân, đào tạo và sát hạch theo chuẩn quốc tế 10.000 kỹ sư đủ năng lực tham gia quản lý, điều hành dây chuyền sản xuất công nghệ cao trong các ngành, lĩnh vực ưu tiên phát triển của đất nước. - Để tăng tính chủ động trong việc quản lý phát triển nhân lực KH&CN, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05/9/2005 quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN công lập. Đến năm 2010,2011: Chính phủ đã ban hành thêm Nghị định số 96/2010/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 115/2005/NĐ-CP; Thông tư liên tịch số 36/2011/TTLT/BKHCN-BTC-BNV của Bộ KH&CN, Bộ Tài chính và Bộ Nội vụ ngày 26/12/2011 sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch số 12/2006/TTLT-BKHCN- BTC-BNV hướng dẫn thực hiện Nghị định số 115/2005/NĐ-CP.
Tuy nhiên, việc vận dụng các quan điểm của Đảng và Nhà nước để huy động được nguồn nhân lực KH&CN tiếp cận trình độ quốc tế thì hầu như chưa có công trình nào đi sâu, nghiên cứu và giải đáp được vấn đề này. Do đó, có thể khẳng định vấn đề nghiên cứu của luận văn này là một vấn đề mới mẻ, mang tính cấp thiết, nhất là trong điều kiện Việt Nam có quan hệ hợp tác với các tổ chức quốc tế, trường ĐH có uy tín ở nước ngoài và đây cũng là cơ hội để ĐHQGHN nâng cao vị trí xếp hạng trong các ĐH danh tiếng của thế giới. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Một số khái niệm công cụ 1.
Nhân lực và nguồn nhân lực Theo cách hiểu chung nhất, khái niệm nhân lực là sức người, sử dụng trong lao động, sản xuất (Từ điển Tiếng Việt, Trung tâm Từ điển học, 1997). Còn trong lý thuyết phát triển, nguồn nhân lực theo nghĩa rộng được hiểu là nguồn lực con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một bộ phận của các nguồn lực có khả năng huy động, tổ chức quản lý để tham gia vào quá trình phát triển KT-XH, chẳng hạn như nguồn vật chất (Physical Resources), nguồn tài chính (Financial Resources).