lời mở đầu của Hiến chƣơng đã khẳng định: “Khẳng định lại sự tin tưởng vào những quyền cơ bản của con người, vào nhân phẩm và giá trị của con người, vào quyền bình đẳng giữa nam và nữ và giữa các quốc gia lớn bé” [7, tr. Lần đầu tiên, bình đẳng về các quyền giữa phụ nữ và đàn ông đã đƣợc khẳng định trong Hiến chƣơng Liên Hiệp Quốc, đặt nền tảng cho tất cả mọi ngƣời không phân biệt chủng tộc, màu da, dân tộc, giới tính, tôn giáo,.tất cả mọi ngƣời đều đƣợc hƣởng các quyền và tự do một cách bình đẳng. Bên cạnh đó, Hiến chƣơng kêu gọi tất cả các nƣớc hành động phối hợp với Liên Hiệp Quốc để đạt đƣợc việc tôn trọng và thực hiện quyền bình đẳng nam nữ trên phạm vi toàn thế giới. Với những mục đích hoạt động đã đƣợc thể hiện trong Hiến chƣơng, trong đó vấn đề bảo vệ quyền con ngƣời, đặc biệt quyền bình đẳng nam nữ là một trong những mục đích chính của Liên Hiệp Quốc nên trong hầu hết các điều khoản của Hiến chƣơng đều có những quy định nhằm thúc đẩy, khuyến khích bảo vệ từ các cơ quan chuyên trách của Liên Hiệp Quốc đến nghĩa vụ của cộng đồng quốc tế, các quốc gia.
Mặc dù, Hiến chƣơng chỉ mới dừng lại ở mức độ là những tuyên bố, khuyến nghị, thúc đẩy của Liên Hiệp Quốc đối với các tổ chức trực thuộc hoặc các quốc gia để nhằm bảo vệ và thực thi quyền bình đẳng giữa vợ và chồng một cách gián tiếp thông qua quyền bình đẳng nam, nữ trên phạm vi toàn thế giới nhƣng đây chính là tiền đề, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho các quốc gia trên thế giới có thể dựa vào đó ký kết và thực hiện các điều ƣớc quốc 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tế đa phƣơng cũng nhƣ song phƣơng, khu vực hay toàn thế giới về quyền con ngƣời. Hiến chƣơng Liên hợp quốc đã trở thành khuôn khổ pháp lý quốc tế nhằm bảo đảm vị thế bình đẳng giữa vợ và chồng trong cƣơng vị chủ thể các quyền con ngƣời; làm tiền đề cho sự ra đời của các Công ƣớc quốc tế khác nhằm hoàn thiện những quyền cơ bản của con ngƣời. *) Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 “Quyền bình đẳng giữa vợ và chồng lần đầu tiên đƣợc đề cập trong Điều 16 của Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền quy định về quyền kết hôn, lập gia đình và bình đẳng trong hôn nhân. Nam và nữ có quyền bình đẳng trong việc kết hôn, trong thời gian chung sống và khi ly hôn.
Các quy định kể trên của Tuyên ngôn sau đó đƣợc tác khẳng định và cụ thể hóa trong Điều 23 Công ƣớc quốc tế về các quyền dân sự, chính trị và Điều 10 Công ƣớc quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa. Chính vì vậy, khi xếp các quyền có liên quan vào một nhóm chung là quyền về gia đình, nhóm chung này sẽ mang đặc trƣng và đôi khi đƣợc xếp vào cả hai nhóm quyền dân sự và quyền xã hội. Cụ thể, về khía cạnh quan hệ nhân thân và tài sản, quyền về gia đình thuộc nhóm quyền dân sự, tuy nhiên, ở khía cạnh an sinh xã hội, quyền này thuộc nhóm quyền xã hội. Các quốc gia thành viên Công ƣớc phải tiến hành các biện pháp thích hợp để đảm bảo sự bình đẳng về quyền và trách nhiệm của vợ và chồng trong suốt thời gian chung sống và sau khi ly hôn.
Liên quan đến Điều 23 Công ƣớc quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, Hội đồng quyền con ngƣời Liên Hiệp Quốc đã giải thích thêm về ý nghĩa và nội dung của các quyền ghi nhận trong Điều này tại Bình luận chung số 19 thông qua phiên họp thứ 39 năm 1990 của Ủy ban, theo đó, về quyền bình đẳng khi kết hôn, cần đặc biệt lƣu ý việc bảo đảm không có sự phân biệt đối xử về giới tính liên quan đến việc nhập hay từ bỏ quốc tịch do kết hôn, cũng nhƣ bảo đảm quyền của cả vợ và chồng đƣợc bình đẳng trong việc giữ nguyên hay lựa chọn mới 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cho mình sau khi kết hôn (đoạn 7). Vợ chồng có quyền bình đẳng liên quan đến tất cả các vấn đề nảy sinh trong đời sống gia đình, ví dụ nhƣ việc lựa chọn nơi cƣ trú, tổ chức cuộc sống, giáo dục con cái, quản lý tài sản, kể cả trong việc ly hôn và trông nom, chu cấp, nuôi dƣỡng, thăm nom con cái sau khi ly hôn…(các đoạn 8-9)” [12, tr. *) Công ƣớc về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ năm 1979 Trong quan hệ HN&GĐ, sự bất bình đẳng giữa vợ và chồng vẫn luôn tồn tại trong xã hội, phần lớn ngƣời phụ nữ phải chịu sự đối xử bất công bằng, chịu nhiều thiệt thòi trong gia đình và xã hội. Công ƣớc về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ là văn kiện quốc tế quan trọng nhất về quyền con ngƣời của phụ nữ, góp phần bảo đảm quyền lợi của ngƣời phụ nữ, ngƣời vợ trong gia đình.
Công ƣớc là một trong 9 Công ƣớc quốc tế quan trọng nhất hiện nay về quyền con ngƣời của Liên Hiệp Quốc. Mặc dù vậy, Công ƣớc không xác lập các quyền mới cho phụ nữ, mà thay vào đó, Công ƣớc này đề ra những phƣơng thức, biện pháp nhằm loại trừ sự phân biệt đối xử chống lại phụ nữ trong việc hƣởng thụ các quyền con ngƣời mà họ đã đƣợc thừa nhận trong những điều ƣớc quốc tế trƣớc đó. Cụ thể, Công ƣớc chỉ ra những lĩnh vực mà có sự phân biệt đối xử nặng nề với phụ nữ trong đó có lĩnh vực HN&GĐ, đồng thời, xác định những cách thức, biện pháp để xóa bỏ những sự phân biệt đối xử đó [12, tr. “Điều 16 Công ƣớc đề cập việc xóa bỏ sự phân biệt đối xử chống lại phụ nữ trên lĩnh vực riêng tƣ mà có ý nghĩa rất quan trọng đến cuộc sống của con ngƣời nói chung và của phụ nữ nói riêng, đó là hôn nhân, gia đình.
Điều này xuất phát từ thực tế là trong hầu hết các xã hội, phụ nữ thƣờng phải chịu đựng sự đối xử bất bình đẳng ngay trong gia đình, thể hiện ở các hình thức nhƣ hôn nhân cƣỡng bức (hay sắp đặt), quyền quyết định về con cái, quản lý tài sản, quyền đƣợc nghỉ ngơi… Sự 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phân biệt đối xử chống lại phụ nữ trên lĩnh vực này đƣợc coi là một trong những yếu tố có ý nghĩa quyết định để phụ nữ đạt đƣợc sự bình đẳng một cách đầy đủ với đàn ông. Các khía cạnh chủ yếu đƣợc đề cập trong Điều 16 bao gồm: (i) Bình đẳng về kết hôn, thể hiện ở việc phụ nữ đƣợc tự do quyết định việc kết hôn và lựa chọn ngƣời phối ngẫu. Vấn đề này liên quan đến trách nhiệm của các nhà nƣớc trong việc quy định độ tuổi kết hôn tối thiểu, việc đăng ký kết hôn, chế độ hôn nhân tự nguyện, cấm chế độ đa thê cũng nhƣ việc tảo hôn cho trẻ em; (ii) Bình đẳng trong hôn nhân và khi hôn nhân kết thúc, thể hiện ở việc phụ nữ đƣợc bình đẳng với chồng cả trong thời gian hôn nhân và khi đã ly hôn. Điều này liên quan đến một loạt vấn đề từ quản lý tài sản chung trong gia đình; quyền và trách nhiệm với con cái; việc xác định số con, khoảng cách giữa các lần sinh; việc cho, nhận con nuôi; những tự do cá nhân nhƣ việc lựa chọn họ tên, quyết định lựa chọn nghề nghiệp, việc làm của bản thân mà không bị phụ thuộc bởi ngƣời chồng.
Liên quan đến Điều 16, trong Khuyến nghị chung số 21, Ủy ban Công ƣớc nêu rằng, chế độ hôn nhân đa thê là trái với quyền bình đẳng nam nữ và có thể gây ra những nguy cơ nghiêm trọng cho phụ nữ và con cái họ, vì vậy, Ủy ban khuyến nghị các quốc gia thành viên cấm chế độ đa thê (đoạn 14). Ủy ban cũng khuyến nghị các quốc gia cấm các hành động cƣỡng ép hoặc sắp đặt hôn nhân để đảm bảo quyền đƣợc lựa chọn ngƣời phối ngẫu (đoạn 15). Thêm vào đó, Ủy ban cho rằng các quy định pháp luật và tập tục ƣu đãi cho nam giới trong việc hƣởng thừa kế tài sản là sự phân biệt đối xử chống lại phụ nữ, đồng thời, yêu cầu các quốc gia thành viên phải thừa nhận và bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong vấn đề này. Liên quan đến Điều 16, trong Khuyến nghị chung số 19, Ủy ban Công ƣớc nêu rằng, hành động triệt sản nữ và bắt buộc phá thai cấu thành sự vi phạm quyền của phụ nữ trong việc quyết định số con và khoảng cách giữa các lần sinh.
Ủy ban cũng yêu cầu các quốc gia 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thành viên tăng cƣờng các biện pháp, kể cả dân sự và hình sự, để chống lại nạn bạo hành phụ nữ trong gia đình, bao gồm việc thiết lập các trung tâm phục hồi và các nhà tạm lánh cho những phụ nữ là nạn nhân của tệ nạn này. Điểm hạn chế của Điều 16 (và của toàn bộ Công ƣớc) là đã không đề cập một cách đúng mức tới vấn đề bạo lực trên cơ sở giới tính, một trong bốn hình thức cơ bản về bất bình đẳng giới. Tuy nhiên, hạn chế này đã phần nào đƣợc khắc phục với việc Đại hội đồng Liên minh Liên hợp quốc thông qua Tuyên ngôn về xóa bỏ mọi hình thức bạo lực chống lại phụ nữ vào năm 1993. Thêm vào đó, trong Khuyến nghị chung số 12 đƣợc thông qua tại phiên họp lần thứ 8 năm 1989, khuyến nghị các quốc gia thành viên thực thi và báo cáo về các biện pháp mà quốc gia đã tiến hành để bảo vệ phụ nữ khỏi những hình thức bạo lực ở trong gia đình, ngoài xã hội và ở nơi làm việc.
Ủy ban cũng cho rằng, bạo lực trên cơ sở giới tính xâm phạm hoặc tƣớc đoạt của phụ nữ rất nhiều quyền và tự do cơ bản của con ngƣời, trong đó có quyền sông; quyền không bị tra tấn, đối xử hay trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo; quyền tự do và an ninh cá nhân; quyền bình đẳng trƣớc pháp luật; quyền bình đẳng trong gia đình; quyền đƣợc hƣởng tình trạng tốt nhất về sức khỏe.