Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG VÀNG VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ CHO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC THỰC HIỆN CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG VÀNG 1. Khái quát về thị trường vàng 1. Đặc trưng của thị trường vàng ở Việt Nam 1. Khái niệm về thị trường vàng Khi nói về thị trường vàng, người ta thường nhắc tới tính thời sự của nó trong những diễn biến khác nhau của nền kinh tế.
Mỗi một quốc gia trên thế giới, với truyền thống văn hóa và trình độ phát triển của thị trường tài chính khác nhau lại có những mối quan tâm rất riêng đối với thị trường vàng. Có nhiều cách tiếp cận đối với thị trường này, từ góc độ bản chất, trước hết đây là một thị trường – nơi được vận hành để tạo điều kiện cho sự gặp gỡ và trao đổi giữa người bán và người mua với nhau. Thị trường được hiểu là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu của một loại hàng hoá, dịch vụ hàng hoá. Không phải yếu tố thị trường mà yếu tố hàng hóa được giao dịch trên thị trường mới làm nên những nét đặc trưng riêng có của nó.
Hàng hóa của thị trường vàng là vàng – một loại hàng hóa đặc biệt, thỏa mãn những nhu cầu đa dạng của đời sống xã hội và không thể thay thế. Chính những đặc tính của vàng đã làm cho nó trở nên hấp dẫn với những nhu cầu đa dạng trong đời sống xã hội và làm nên một thị trường vàng rất sôi động. Sự hấp dẫn của vàng tạo nên nhu cầu trên thị trường xuất phát từ những lý do: Thứ nhất, vàng vật chất là tài sản chứa đựng giá trị nội tại, theo thời gian, vàng luôn là nơi ẩn náu an toàn cho các khoản tích trữ, đặc biệt ở các giai đoạn khủng hoảng kinh tế ở mọi cấp độ. Xu hướng của vàng là luôn giữ vững được giá trị của nó theo thời gian.000 năm lịch sử của nhân 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com loại, vàng không chỉ là hình thức biểu hiện của cải cuối cùng mà bất kỳ thời đại nào, dân tộc nào, khu vực nào, thể chế chính trị nào trong bất kỳ nền văn minh nào, vàng cũng đã và đang được chấp nhận.
Nó chính là thước đo đáng tin cậy nhất về giá trị của mọi loại hàng hóa, không chỉ trong hiện tại mà còn trong tương lai [1, tr. Thứ hai, vàng là một công cụ đầu tư hiệu quả. Mức độ sinh lợi từ đầu tư vàng tương đối cao so với các sản phẩm đầu tư khác, trong khi mức độ rủi ro thị truờng tương đối thấp. Nắm bắt chính xác xu hướng tăng, giảm giá vàng có thể đem lại những khoản lợi không nhỏ cho các nhà đầu tư nếu như biết chọn thời điểm mua – bán đúng đắn.
Thứ ba, với giá trị thẩm mỹ cao, một nhu cầu không nhỏ khác đối với vàng nằm ở bộ phận vàng trang sức. Trang sức bằng vàng không chỉ đẹp về mẫu mã mà còn chứa đựng giá trị không nhỏ đã tạo nên sức hút với đông đảo các tầng lớp dân cư, đặc biệt với các quốc gia có truyền thống Á Đông như Việt Nam. Thứ tư, trong nền kinh tế ngày nay, vàng không chỉ được sử dụng như một phương tiện tích trữ hay đồ trang sức, mà cùng với những đặc tính hiếm có của mình, vàng còn là một nguyên liệu đầu vào không thể thiếu trong nhiều ngành công nghiệp, đặc biệt là những ngành công nghiệp công nghệ cao. Khó có thể hình dung nếu thiếu vàng thì các ngành công nghiệp vũ trụ, công nghiệp máy tính, và nhiều ngành công nghệ khác sẽ như thế nào.
Đáp ứng cho các nhu cầu kể trên, thị trường vàng lại có nguồn cung bổ sung rất hạn chế. Các số liệu thống kê của Gold Field Mineral Services [12, tr.26] đã chỉ ra rằng kể từ khi loài người biết đến vàng, số lượng vàng được khai thác đạt xấp xỉ 166. Tính từ năm 2000, hàng năm con người khai thác xấp xỉ 2600 tấn vàng trên toàn thế giới với trữ lượng chưa khai thác ước tính là 75. Bên cạnh đó, các số liệu cũng cho thấy 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chi phí khổng lồ của ngành công nghiệp khai thác vàng.
Để có thể có được 500 tấn vàng đòi hỏi phải công sức khai thác và xử lý 70 triệu tấn đất đá. Thói quen tích trữ vàng cũng là một nguyên nhân khiến cho nguồn cung vàng trên thị trường không thực sự dồi dào. Bên cạnh những đặc trưng về yếu tố cung – cầu, vàng còn thể hiện sự khác biệt ở vai trò của nó đối với nền kinh tế. Không chỉ đơn thuần là một loại hàng hóa, vàng còn giữ tư cách như một loại tiền tệ bởi những đặc tính vốn có của nó.
Vàng luôn giữ một ví trị quan trọng trong đời sống của hầu hết các dân tộc trên thế giới. Chứa đựng nhiều phẩm chất quý giá, vàng là minh chứng cho sự giàu sang của những người sở hữu nó. Sự thừa nhận rộng rãi giá trị của vàng đã làm cho vàng trở thành tiền tệ trong hàng nghìn năm lịch sử của nhiều quốc gia như một quá trình tự nhiên. Các lý thuyết kinh tế nhìn nhận tiền tệ có ba đặc điểm quan trọng là phương tiện lưu trữ giá trị, là phương tiện định giá và là phương tiện trao đổi.
Vào giai đoạn mọi vật đều có thể quy đổi giá trị theo vàng và được chấp nhận trong quan hệ mua bán như một phương tiện thanh toán thì vàng là một loại tiền tệ. Mặc dù hiện nay, theo những học thuyết kinh tế mới, tiền tệ pháp định đang được áp dụng lưu hành và vàng dần được rút ra khỏi hệ thống tiền tệ nhưng trong không ít các trường hợp, người ta vẫn nghĩ về vàng như một loại tiền hơn chỉ là một loại tài sản thông thường. Những đặc tính riêng của vàng đã làm nên một thị trường có sức hấp dẫn với rất nhiều nhu cầu trong xã hội. Có thể khái quát về thị trường vàng như sau: “Thị trường vàng là nơi diễn ra các giao dịch mua, bán và trao đổi về vàng”.
Hay nói cách khác, “Thị trường vàng là nơi mà giá cả của vàng được thiết lập thông qua các giao dịch”. Tuy nhiên, khái niệm kể trên chưa thực sự đem lại một cách hiểu đầy đủ về thị trường vàng với toàn bộ những bộ phận cấu tạo nên thị trường này. Bởi nó chưa cho chúng ta thấy được sự 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khác biệt của vàng và những sản phẩm phái sinh từ vàng. Cả hai loại hàng hóa kể trên đều tham gia vào thị trường để đáp ứng cho các nhu cầu trao đổi.
Một cách cụ thể hơn và phù hợp với sự phát triển của giao dịch hiện đại, thị trường vàng còn được nhìn nhận bao gồm thị trường vật chất và thị trường vàng giấy. Theo Gary O’Callaghan: Thị trường vàng bao gồm: Thị trường vàng vật chất (physical gold), trong đó vàng thỏi, tiền, trang sức được chuyển giao giữa các chủ thể trên thị trường; và Thị trường vàng giấy (Paper gold), có thể gọi là vàng chứng chỉ, trong đó bao gồm giao dịch được thực hiện với các loại chứng khoán tương ứng [28]. Đặc trưng của thị trường vàng Việt Nam Ở Việt Nam, những diễn biến của thị trường vàng trong nhiều năm qua đã phản ánh nhiều thực tế mang cả yếu tố khách quan lẫn yếu tố chủ quan. Với đề tài này, tác giả tập trung tìm hiểu những diễn biến của thị trường vàng Việt Nam từ thời điểm bắt đầu là những năm 90 của thế kỷ 20, khi Nhà nước bắt đầu cho phép những giao dịch tự do về vàng đầu tiên được thực hiện.
Cho đến nay, sau hơn hai mươi năm kể từ thời điểm đó, đã có nhiều dấu mốc quan trọng cho sự mở rộng, thậm chí có những thời điểm bùng nổ các hoạt động trên thị trường vàng, và đến gần đây nhất, các hoạt động trên thị trường vàng lại bị thu hẹp đáng kể. Tất cả những thay đổi trên thị trường đó đều gắn với những định hướng của Nhà nước khi ban hành những văn bản điều chỉnh hoạt động của các chủ thể trên thị trường. Như vậy, có thể thấy đặc trưng đầu tiên của thị trường vàng Việt Nam là luôn nhận được sự quan tâm từ phía cơ quan quản lý, và luôn được tổ chức vận hành nhằm đáp ứng yêu cầu phù hợp với chính sách chung của Chính phủ. Ở Việt Nam, chính sách của Chính phủ có thể tác động một cách trực tiếp và dễ dàng tới thị trường vàng một cách có chủ đích.
Tuy nhiên những chính sách này tại nhiều thời điểm thường có độ trễ đáng kể so với những diễn biến nhanh chóng của thị trường. Có thể kể đến 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hiện tượng sự xuất hiện và tồn tại của các sàn vàng tư nhân với uy tín và quy mô khác nhau như một loại hình kinh doanh chứa đựng nhiều rủi ro dành cho nhà đầu tư nhưng không có quy định pháp luật điều chỉnh; hay ví dụ về sự xuất hiện và lưu thông của nhiều thương hiệu vàng nhưng không có một quy chuẩn cần thiết để đảm bảo lợi ích chính đáng của người tiêu dùng. Đặc trưng thứ hai, thị trường vàng Việt Nam là một thị trường gồm nhiều bộ phận, nhưng chưa được định hình một cách rõ nét. Ở Việt Nam, chưa có một cái nhìn chính thức về thị trường vàng mà mới chỉ dừng lại ở việc duy trì trên cơ sở thị trường vàng vốn đã tồn tại.
Có nhiều cách khác nhau để phân loại thị trường vàng, nhưng tồn tại ở Việt Nam có thể kể đến các bộ phận: Thị trường vàng vật chất, thị trường vàng tài khoản, thị trường vàng ngoại hối; Thị trường vàng trang sức, thị trường vàng miếng, thị trường vàng nguyên liệu. Mặc dù chia thành các bộ phận khác nhau nhưng tính liên thông, pha trộn giữa các bộ phận này là phổ biến ở Việt Nam. Lấy ví dụ về nhu cầu coi vàng như một tài sản tích trữ, không có nhiều sự khác biệt ở sự lựa chọn vàng miếng và vàng nhẫn với chất liệu vàng ta. Ở Việt Nam, sự điều chỉnh trong chính sách quản lý trong nhiều trường hợp là không trực tiếp và chưa tạo ra cơ chế pháp lý riêng dành cho những nhóm chủ thể tham gia thị trường khác nhau.
Một thị trường vàng với nhiều bộ phận khác nhau làm công tác quản lý không phải khi nào cũng dễ dàng, đặc biệt là quản lý bằng công cụ pháp luật. Điều đó đòi hỏi nhà quản lý phải có tư tưởng xuyên suốt trong quá trình xây dựng hệ thống pháp luật.