Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học "Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật xung đột ở Việt Nam" do nghiên cứu sinh Nguyễn Bá Chiến thực hiện tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2008, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Bá Diến. Luận án thuộc chuyên ngành Luật Quốc tế (mã số: 62 38 60 01), theo hướng nghiên cứu định tính, kết hợp phân tích lý luận pháp lý và giải thích luật thực định.

Tính cấp thiết của đề tài và khoảng trống nghiên cứu

Quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam trong hai thập kỷ (1986–2006) đã thúc đẩy sự gia tăng nhanh chóng của các quan hệ mang tính chất dân sự có yếu tố nước ngoài trên các lĩnh vực: dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh doanh, thương mại. Tác giả luận án viện dẫn các dữ liệu thực tiễn phản ánh nhu cầu điều chỉnh pháp lý:

  • Năm 2007, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam đạt 20,3 tỉ USD, mức cao nhất trong 20 năm, chiếm 25% tổng số vốn lũy kế của giai đoạn này.
  • Khách quốc tế đến Việt Nam tăng trưởng đều đặn (riêng tháng 7/2007 đạt 343 nghìn lượt, lũy kế 7 tháng đầu năm 2007 đạt hơn 2,46 triệu lượt, tăng 16,2% so với cùng kỳ năm trước).
  • Về phía Việt Nam ra nước ngoài: tính đến hết quý I/2007 có 200 dự án đầu tư ra nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn hơn 1.003,95 triệu USD; năm 2005 đưa gần 71.000 người lao động đi làm việc ở nước ngoài; đến năm 2003 có gần 70.000 trường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài được giải quyết; cùng với cộng đồng khoảng 3 triệu người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

Sự phát triển của các mối quan hệ xã hội vượt ra ngoài biên giới quốc gia làm phát sinh hiện tượng xung đột pháp luật (conflict of laws). Để giải quyết xung đột pháp luật, việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật xung đột là đòi hỏi khách quan. Tuy nhiên, hệ thống quy phạm xung đột của Việt Nam thời điểm đó bộc lộ nhiều bất cập: thiếu quy phạm mang tính nguyên tắc nền tảng thuộc về chính sách tư pháp quốc tế (TPQT); nhiều quy phạm thiếu tính đồng bộ, chưa thống nhất; một số quy định chưa sát thực tiễn đời sống; còn tồn tại khoảng trống pháp luật ở một số lĩnh vực quan hệ cụ thể.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Văn bản luận án xác định 02 mục tiêu và 03 nhóm nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

Mục tiêu nghiên cứu:

  1. Làm sáng tỏ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật xung đột ở Việt Nam.
  2. Lập luận và đề xuất những quan điểm, phương hướng cùng giải pháp cụ thể để hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật xung đột ở Việt Nam.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Về cơ sở lý luận: Phân tích các vấn đề lý luận cơ bản về quy phạm xung đột và hệ thống quy phạm xung đột; lý giải đặc điểm quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài và vai trò điều chỉnh của quy phạm xung đột; chứng minh tính tất yếu khách quan của việc hoàn thiện hệ thống này; tổng thuật kinh nghiệm pháp lý quốc tế về việc áp dụng quy phạm xung đột.
  2. Về cơ sở thực tiễn: Đánh giá thực trạng quy phạm xung đột trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam và trong các điều ước quốc tế (ĐƯQT) mà Việt Nam là thành viên; phân tích ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân; xem xét thực tiễn áp dụng quy phạm xung đột qua các vụ việc điển hình để làm rõ những bất cập.
  3. Về phương hướng và kiến nghị: Lập luận, chứng minh hệ thống quan điểm, phương hướng mang tính định hướng; xây dựng các giải pháp, kiến nghị lập pháp cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống quy phạm xung đột tại Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống quy phạm pháp luật xung đột ở Việt Nam, bao gồm các quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh, các quy phạm xung đột trong các ngành luật (dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh doanh, thương mại, tố tụng dân sự) tồn tại trong văn bản pháp luật quốc gia và ĐƯQT mà Việt Nam tham gia.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về nội dung: Tập trung vào các vấn đề lý luận trực tiếp (khái niệm, cấu trúc, phân loại, hệ thuộc, yếu tố chi phối, yêu cầu nội tại của hệ thống) và cấu trúc nội tại (mô hình, bộ phận cấu thành, trật tự thứ bậc); không đi sâu vào các yếu tố bên ngoài như cơ chế tổ chức thi hành pháp luật nói chung.
    • Về không gian và tư liệu quốc tế: Chọn lọc các quan điểm lý thuyết và văn bản pháp luật, án lệ phổ biến, điển hình của một số quốc gia đại diện (Anh, Mỹ, Pháp, Nhật Bản, Ba Lan, Trung Quốc...) và các công ước quốc tế đa phương tiêu biểu (Công ước Lahay, Công ước Roma 1980, Công ước Viên 1980).
    • Về thời gian: Khảo cứu hệ thống quy phạm xung đột Việt Nam kể từ sau ngày thống nhất đất nước (30/4/1975) đến thời điểm nghiên cứu (năm 2008), trọng tâm là giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật Dân sự 1995 đến Bộ luật Dân sự 2005; không nghiên cứu hệ thống pháp luật của chế độ cũ ở miền Nam trước năm 1975.
    • Về thực tiễn xét xử: Tập trung phân tích có chọn lọc thông qua một số vụ việc cụ thể có tính chất điển hình.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả luận án phân loại và điểm luận toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài:

Nhóm công trình Tác giả, công trình, năm xuất bản / công bố Đánh giá về phạm vi và khoảng trống nghiên cứu
Giáo trình và công trình lý luận hệ thống về TPQT trong nước - Nguyễn Bá Diến (Chủ biên, 2001), Giáo trình Tư pháp quốc tế, NXB ĐHQG Hà Nội.
- Đoàn Năng (2001), Một số vấn đề lý luận cơ bản về Tư pháp quốc tế, NXB Chính trị quốc gia.
- Đỗ Văn Đại, Mai Hồng Quỳ (2006), Tư pháp quốc tế Việt Nam, NXB ĐHQG TP. Hồ Chí Minh.
- Nhà pháp luật Việt - Pháp (1995), Luật Tư pháp quốc tế - tài liệu hội thảo.
Các công trình này trình bày có hệ thống các vấn đề lý luận chung của TPQT, xung đột pháp luật và áp dụng pháp luật nước ngoài, chủ yếu phục vụ nghiên cứu, giảng dạy; chưa tập trung đánh giá chuyên sâu và toàn diện thực trạng hệ thống quy phạm xung đột Việt Nam.
Nghiên cứu chuyên đề sâu về các thiết chế TPQT cụ thể - Nguyễn Trung Tín (1999), Vị trí của TPQT trong đời sống xã hội.
- Bùi Xuân Nhự (2007), Vấn đề nhất thể hóa pháp luật và hài hòa hóa pháp luật trong TPQT.
- Nguyễn Bá Chiến (2006), Quyền lựa chọn pháp luật áp dụng của các cá nhân, tổ chức trong lĩnh vực TPQT.
- Bùi Thị Thu (2005), Chọn luật áp dụng trong hợp đồng thương mại quốc tế theo Công ước Rome...
- Đỗ Văn Đại (2002, 2003), các bài viết về định danh, thừa kế theo pháp luật, dẫn chiếu trong hợp đồng.
Tập trung vào từng khía cạnh kỹ thuật pháp lý chuyên biệt (chọn luật hợp đồng, thừa kế, định danh, dẫn chiếu) nhưng mang tính phân mảnh, chưa bao quát toàn bộ cấu trúc hệ thống quy phạm xung đột của quốc gia.
Nghiên cứu về lý luận quy phạm xung đột và hệ thuộc - Trần Văn Thắng (2000), Về hệ thống quy phạm của TPQT.
- Nguyễn Trung Tín (2004), Một số ý kiến về các quy phạm xung đột của Bộ luật Dân sự.
- Nguyễn Bá Chiến (2003), Bàn về một số yêu cầu đối với việc xây dựng hệ thống các quy phạm pháp luật xung đột...
Phân tích sâu về cấu trúc quy phạm, hệ thuộc, cơ chế phân loại nhưng quy mô nghiên cứu còn ở phạm vi bài viết tạp chí, chưa luận giải đầy đủ cơ sở lý luận gắn với chỉnh thể hệ thống pháp luật thực định.
Nghiên cứu đánh giá thực trạng và đề xuất sửa đổi - Nguyễn Tiến Vinh (2003), các bài viết về hoàn thiện Phần VII BLDS 1995.
- Đoàn Năng (1998), Vấn đề hoàn thiện hệ thống quy phạm xung đột hướng dẫn chọn pháp luật...
- Ngô Huy Cương (1997), Vấn đề xung đột pháp luật trong lĩnh vực hàng không...
- Nguyễn Hồng Bắc (1998, 2001), nghiên cứu về xung đột pháp luật trong thừa kế, hôn nhân gia đình.
- Nguyễn Bá Chiến (2004), Nguyên tắc bảo lưu trật tự công cộng...
Đã chỉ ra một số bất cập trong các văn bản luật cụ thể, nhưng phần lớn thực hiện trước khi ban hành BLDS năm 2005 hoặc chỉ dừng lại ở từng đạo luật riêng lẻ.
Nghiên cứu thực tiễn áp dụng và bình luận văn bản - Đinh Trung Tụng (Chủ biên, 2005), Bình luận những nội dung mới của BLDS năm 2005.
- Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2006), Thực trạng phụ nữ Việt Nam kết hôn với người Đài Loan và giải pháp.
- Phạm Công Bảy (2006), Tranh chấp liên quan đến hợp đồng đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài...
- Trần Văn Tuân (2005), Về quyền thừa kế nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Tập trung vào một loại quan hệ thực tiễn (kết hôn, xuất khẩu lao động, thừa kế nhà ở) hoặc giải thích nội dung mới của luật; chưa tổng kết toàn diện thực tiễn áp dụng ở góc độ xung đột pháp luật.
Đề tài khoa học và luận án tiến sĩ chuyên ngành - Vũ Đức Long (Chủ nhiệm, 2002), Đề tài cấp bộ: Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài (Bộ Tư pháp - JICA).
- Nguyễn Công Khanh (2003), Luận án TS: Cơ sở lý luận và thực tiễn của pháp luật điều chỉnh một số quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài ở nước ta hiện nay.
- Nông Quốc Bình (2003), Luận án TS: Pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam.
Đề tài của Vũ Đức Long dừng lại ở BLDS 1995. Luận án của Nguyễn Công Khanh và Nông Quốc Bình nghiên cứu kết hợp cả quy phạm xung đột lẫn quy phạm thực chất và chỉ giới hạn trong một số lĩnh vực hẹp (sở hữu, thừa kế, hôn nhân gia đình).
Tài liệu học thuật quốc tế - J. Morris (1984), The Conflict of Laws (Stevens & Sons).
- Michael Freeman (2004), Conflict of Laws (University of London Press).
- Lea Brilmayer (1991), Conflict of Laws - Foundations and Future Directions (Little, Brown & Co).
- William Tetley, A Canadian Looks at American Conflict of Law Theory and Practice...
- Carolyn Hotchkiss (1993), Luật quốc tế về doanh nghiệp (bản dịch Võ Hưng Thanh).
Cung cấp hệ thống lý thuyết nền tảng về giải quyết xung đột pháp luật tại các nước thuộc hệ thống Common Law và Civil Law, phương pháp lựa chọn luật áp dụng, làm cơ sở lý luận so sánh.

Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết: Cho đến thời điểm tác giả bảo vệ (năm 2008), chưa có một công trình nghiên cứu tổng thể, chuyên sâu và có hệ thống về hệ thống quy phạm pháp luật xung đột của Việt Nam dưới dạng một luận án tiến sĩ luật học. Luận án tập trung xử lý đồng bộ cả khía cạnh lý luận, khảo sát toàn diện thực trạng văn bản quy phạm pháp luật (đặc biệt là sau khi BLDS năm 2005 có hiệu lực) và ĐƯQT, từ đó xây dựng hệ thống quan điểm và giải pháp lập pháp mang tính chỉnh thể.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khái niệm trung tâm

  • Quy phạm pháp luật xung đột (Conflict rule): Được định nghĩa là loại quy phạm pháp luật không trực tiếp quy định quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể tham gia quan hệ pháp luật, cũng như không trực tiếp xác định các biện pháp chế tài kèm theo, mà chỉ có chức năng xác định hệ thống pháp luật của quốc gia nào được áp dụng để điều chỉnh quan hệ mang tính chất dân sự có yếu tố nước ngoài.
  • Cấu trúc của quy phạm xung đột: Luận án khẳng định quy phạm xung đột không có 3 bộ phận thông thường (giả định, quy định, chế tài) mà được cấu thành từ 02 bộ phận đặc thù:
    1. Phần phạm vi: Chỉ ra loại quan hệ xã hội mang tính chất dân sự có yếu tố nước ngoài cần được điều chỉnh.
    2. Phần hệ thuộc: Chỉ ra hệ thống pháp luật của quốc gia cụ thể sẽ được dẫn chiếu áp dụng để điều chỉnh quan hệ nêu ở phần phạm vi.
  • Phân loại quy phạm xung đột: Căn cứ vào hình thức (một chiều và hai chiều); căn cứ vào phần phạm vi (về nhân thân, tài sản, hợp đồng, thừa kế, hôn nhân gia đình, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng...); căn cứ vào tính chất tác động (mệnh lệnh và tùy nghi); căn cứ vào nguồn chứa đựng (quy phạm xung đột thông thường trong luật quốc gia và quy phạm xung đột thống nhất trong ĐƯQT/tập quán quốc tế).
  • Hệ thống quy phạm xung đột: Là tổng thể các quy phạm xung đột trong các lĩnh vực khác nhau (dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh doanh, thương mại, tố tụng mang tính chất dân sự), có quan hệ biện chứng, tác động qua lại theo một trật tự có quy luật, tạo thành một thể thống nhất nhằm thực hiện chức năng điều chỉnh các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài.

Các hệ thuộc luật cơ bản được phân tích và minh chứng bằng luật thực định:

Hệ thuộc luật Thuật ngữ Latinh Nội dung nguyên tắc Ví dụ luật thực định dẫn chiếu trong luận án
Luật nhân thân Lex personalis Áp dụng luật liên quan đến nhân thân cá nhân. Bao gồm: Luật quốc tịch (Lex patriae) và Luật nơi cư trú (Lex domicilii). Khoản 1 Điều 34 Hiệp định TTTP Việt Nam – Ucraina 2000; Khoản 1 Điều 768 BLDS Việt Nam 2005; Điều 149 BLDS Trung Quốc 1986.
Luật quốc tịch của pháp nhân Lex societatis Áp dụng pháp luật của quốc gia mà pháp nhân mang quốc tịch để xác định năng lực pháp luật dân sự. Khoản 1 Điều 8 Nghị định 60/CP ngày 06/06/1997 của Chính phủ.
Luật nơi có tài sản Lex rei sitae Áp dụng luật của nước nơi tài sản đang tồn tại thực tế, áp dụng chủ yếu cho bất động sản và một số khía cạnh động sản. Khoản 1 Điều 24 Luật TPQT Ba Lan 1965; Khoản 2 Điều 36 Hiệp định TTTP Việt Nam – Lào 1998.
Luật tòa án Lex fori Áp dụng pháp luật của nước nơi có tòa án thụ lý, giải quyết tranh chấp (phổ biến trong tố tụng, một số quan hệ nhân thân/hợp đồng). Khoản 1 Điều 26 Hiệp định TTTP Việt Nam – Liên bang Nga 1998.
Luật nơi thực hiện hành vi Lex loci actus Áp dụng pháp luật nơi hành vi diễn ra, gồm: nơi ký hợp đồng (lex loci contractus), nơi thực hiện hợp đồng (locus regit actum), nơi thực hiện nghĩa vụ (lex loci solutionis), nơi kết hôn (lex loci celebrationis), nơi thực hiện công việc (lex loci laboris). Khoản 1 Điều 21 Hiệp định TTTP Việt Nam – Lào 1998; Khoản 2 Điều 834 BLDS 1995; Điều 1459 BLDS Thương mại Thái Lan 1925; Khoản 1 Điều 40 Hiệp định TTTP Việt Nam – Ucraina 2000.
Luật nơi xảy ra vi phạm Lex loci delicti commissi Áp dụng luật của nước nơi hành vi vi phạm xảy ra hoặc nơi phát sinh hậu quả thực tế của hành vi gây thiệt hại ngoài hợp đồng. Khoản 1 Điều 31 Hiệp định TTTP Việt Nam – Bungari 1986; Khoản 1 Điều 773 BLDS Việt Nam 2005.
Luật do các bên lựa chọn Lex voluntatis Áp dụng luật do các bên đương sự thỏa thuận lựa chọn trong giao kết hợp đồng. Khoản 1 Điều 3 Công ước Roma 1980; Khoản 1 Điều 36 Hiệp định TTTP Việt Nam – Liên bang Nga 1998.
Luật quốc kỳ / Nơi đăng ký phương tiện Lex banderae / Lex libri sitae Áp dụng luật của quốc gia mà phương tiện vận tải mang cờ quốc tịch hoặc nơi đăng ký phương tiện. Khoản 1 Điều 3 Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2005; Điểm a Khoản 2 Điều 5 Luật Hàng không dân dụng Việt Nam 1991.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp luận: Vận dụng phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin. Xem xét hệ thống pháp luật là yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng, vận động và biến đổi phụ thuộc vào sự phát triển khách quan của cơ sở hạ tầng kinh tế và các quan hệ giao lưu dân sự quốc tế.
  • Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
    • Phương pháp phân tích luật thực định: Rà soát câu chữ, cấu trúc logic của từng điều khoản quy phạm xung đột trong BLDS năm 1995, BLDS năm 2005, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Bộ luật Hàng hải năm 1990/2005, Luật Hàng không dân dụng năm 1991, các nghị định hướng dẫn (Nghị định 60/CP, Nghị định 138/2006/NĐ-CP) và các hiệp định song phương.
    • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu các giải pháp xung đột pháp luật của Việt Nam với pháp luật nước ngoài (Nhật Bản, Ba Lan, Trung Quốc, Pháp, Anh, Mỹ, Thái Lan) và các công ước quốc tế.
    • Phương pháp tổng hợp và đối chiếu: Tổng hợp các luồng quan điểm học thuật, đối chiếu quy định pháp luật với thực tế phát sinh trong các vụ việc tranh chấp cụ thể.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Nghiên cứu sử dụng nguồn văn bản quy phạm pháp luật thực định của Việt Nam; hệ thống hơn 10 Hiệp định tương trợ tư pháp song phương giữa Việt Nam với các nước (Liên bang Nga, Ba Lan, Tiệp Khắc, Bungari, Lào, Ucraina...); 13 hiệp định/thỏa thuận song phương về nuôi con nuôi; các công ước quốc tế đa phương; số liệu thống kê kinh tế - xã hội chính thức từ Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Tổng cục Du lịch, Cục Đầu tư nước ngoài và tài liệu án lệ quốc tế.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật xung đột

Chương 1 thiết lập khung lý thuyết nền tảng cho toàn bộ luận án qua 5 nội dung chính:

  • Khái niệm và đặc trưng của quy phạm xung đột: Làm rõ bản chất gián tiếp của quy phạm xung đột. Tác giả nhấn mạnh rằng khi quy phạm xung đột dẫn chiếu đến hệ thống pháp luật của một quốc gia thì có nghĩa là toàn bộ hệ thống pháp luật có liên quan của quốc gia đó được áp dụng (bao gồm văn bản luật, tập quán, và án lệ nếu quốc gia đó thừa nhận án lệ), chứ không chỉ dẫn chiếu đến một điều luật đơn lẻ.
  • Bản chất của quan hệ mang tính chất dân sự có yếu tố nước ngoài: Phân tích các yếu tố cấu thành tính chất quốc tế của quan hệ (chủ thể là người nước ngoài/pháp nhân nước ngoài/người Việt Nam định cư ở nước ngoài; khách thể ở nước ngoài; sự kiện pháp lý phát sinh, thay đổi, chấm dứt diễn ra ở nước ngoài).
  • Vai trò và giới hạn của quy phạm xung đột: Đánh giá hai mặt của phương pháp giải quyết xung đột bằng quy phạm xung đột. Ưu điểm là tôn trọng chủ quyền quốc gia, linh hoạt điều chỉnh các quan hệ gắn liền với văn hóa, truyền thống nhân thân của mỗi nước. Hạn chế là tính phức tạp trong việc xác định và chứng minh nội dung pháp luật nước ngoài, có thể dẫn đến hiện tượng dẫn chiếu ngược (renvoi) hoặc xung đột về phân loại định danh.
  • Kinh nghiệm lập pháp quốc tế: Khảo sát các mô hình cấu trúc quy phạm xung đột trên thế giới: mô hình pháp điển hóa trong luật TPQT riêng biệt (Nhật Bản, Ba Lan, Thụy Sĩ, Đức...), mô hình tập trung thành một phần trong Bộ luật Dân sự (Việt Nam, Trung Quốc, Pháp...), và mô hình án lệ kết hợp đạo luật riêng lẻ (Anh, Mỹ).
  • Vị trí của quy phạm xung đột trong hệ thống pháp luật Việt Nam: Khẳng định quy phạm xung đột là bộ phận cấu thành hữu cơ của hệ thống pháp luật Việt Nam, có mối quan hệ biện chứng giữa cái chung (các quy định nền tảng tại Phần thứ bảy BLDS) và cái riêng (các quy phạm xung đột trong các luật chuyên ngành như Hàng hải, Hàng không, Hôn nhân và gia đình, Thương mại).

Chương 2: Thực trạng hệ thống quy phạm pháp luật xung đột ở Việt Nam

Chương 2 khảo sát thực trạng luật thực định và thực tiễn áp dụng:

  • Lịch sử phát triển: Phân chia quá trình phát triển quy phạm xung đột tại Việt Nam qua các giai đoạn từ sau 1975, đánh dấu bước chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung (ít phát sinh quan hệ dân sự quốc tế ngoài khối XHCN) sang thời kỳ đổi mới, ban hành BLDS năm 1995 và bước hoàn thiện với BLDS năm 2005.
  • Thực trạng trong văn bản luật quốc gia: Đánh giá chi tiết các quy định trong Phần thứ bảy BLDS năm 2005 (từ Điều 758 đến Điều 777), Chương XI Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Bộ luật Hàng hải năm 2005. Luận án chỉ ra các hạn chế:
    • Một số quy phạm còn mang tính một chiều cứng nhắc, chưa tạo điều kiện tối đa cho quyền tự do lựa chọn luật (lex voluntatis) của các đương sự trong quan hệ hợp đồng.
    • Vấn đề bảo lưu trật tự công cộng (ordre public) còn quy định chung chung, dễ dẫn đến việc cơ quan tiến hành tố tụng lạm dụng để từ chối áp dụng pháp luật nước ngoài.
    • Chưa có quy phạm hướng dẫn cụ thể về xử lý hiện tượng dẫn chiếu ngược (renvoi bậc 1, renvoi bậc 2) và phân loại định danh pháp lý.
  • Thực trạng trong các điều ước quốc tế: Phân tích sự thiếu đồng bộ giữa các quy định xung đột trong các Hiệp định tương trợ tư pháp song phương ký với các nước Đông Âu cũ (ký trong thập niên 1980–1990) với các hiệp định ký sau năm 2000 và với pháp luật trong nước.
  • Thực tiễn áp dụng: Phân tích các khó khăn của Tòa án nhân dân các cấp trong việc thu thập thông tin, giải thích và áp dụng pháp luật nước ngoài; sự lúng túng khi giải quyết các tranh chấp hôn nhân có yếu tố nước ngoài hoặc tranh chấp hợp đồng lao động quốc tế.

Chương 3: Những quan điểm, phương hướng và giải pháp hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật xung đột ở Việt Nam

Chương 3 xây dựng các định hướng và giải pháp lập pháp cụ thể:

  • Tính tất yếu khách quan: Hoàn thiện quy phạm xung đột là yêu cầu bắt buộc của công cuộc cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền và thực hiện các cam kết quốc tế khi gia nhập WTO.
  • Hệ thống quan điểm cơ bản:
    • Bảo đảm sự phù hợp với đường lối, chính sách mở cửa, hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước.
    • Tôn trọng chủ quyền quốc gia, đồng thời tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự trong quan hệ dân sự quốc tế.
    • Bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, thứ bậc hiệu lực trong hệ thống văn bản pháp luật quốc gia và tương thích với các chuẩn mực quốc tế.
    • Kế thừa truyền thống pháp lý Việt Nam kết hợp tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm lập pháp quốc tế.
  • Phương hướng hoàn thiện: Xây dựng Phần thứ bảy của Bộ luật Dân sự trở thành "Đạo luật chung" về tư pháp quốc tế; xác lập rõ mối quan hệ giữa BLDS với các luật chuyên ngành; tăng cường tham gia các điều ước quốc tế đa phương về TPQT (như các công ước của Hội nghị Lahay về TPQT).
  • Các giải pháp cụ thể:
    • Về mặt lập pháp: Không ban hành một đạo luật chuyên biệt riêng về TPQT tại thời điểm đó, mà tập trung sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện Phần thứ bảy BLDS; mở rộng phạm vi áp dụng của hệ thuộc luật lựa chọn trong hợp đồng; quy định rõ cơ chế xác định nội dung pháp luật nước ngoài và nguyên tắc trật tự công cộng.
    • Về mặt thực thi: Nâng cao năng lực chuyên môn của thẩm phán, cán bộ tư pháp về TPQT; thiết lập cơ chế phối hợp giữa Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp và Tòa án nhân dân tối cao trong việc cung cấp, xác thực thông tin pháp luật nước ngoài.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  1. Làm rõ và bổ sung các luận cứ khoa học về khái niệm, đặc điểm, cấu trúc 02 bộ phận (phạm vi - hệ thuộc) của quy phạm xung đột và bản chất hệ thống của quy phạm xung đột trong TPQT.
  2. Xác lập hệ thống các tiêu chí khoa học đánh giá tính hoàn thiện của hệ thống quy phạm xung đột, bao gồm: tính đầy đủ, tính đồng bộ, tính thống nhất, tính khả thi và tính hội nhập quốc tế.
  3. Phân tích sâu sắc mối quan hệ biện chứng giữa chính sách đối ngoại mở rộng với sự phát triển tất yếu của hệ thống quy phạm xung đột; chứng minh quy phạm xung đột là công cụ pháp lý bảo vệ chủ quyền quốc gia trong quan hệ tư.
  4. Luận giải vị trí pháp lý của Phần thứ bảy BLDS như một chỉnh thể quy phạm chung chi phối các quy phạm xung đột chuyên ngành trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp

  1. Rà soát, hệ thống hóa và phân loại toàn diện các quy phạm xung đột trong hệ thống pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế song phương/đa phương mà Việt Nam tham gia tính đến năm 2008.
  2. Đưa ra quan điểm lập pháp rõ ràng: Không nên xây dựng một đạo luật chuyên biệt riêng về Tư pháp quốc tế ở Việt Nam trong giai đoạn trước mắt, mà giải pháp phù hợp nhất là tiếp tục hoàn thiện, nâng tầm Phần thứ bảy của Bộ luật Dân sự thành "Đạo luật nền tảng" về TPQT, đóng vai trò hạt nhân định hướng cho các luật chuyên ngành.
  3. Đề xuất phương án xử lý xung đột giữa các quy định trong luật chuyên ngành (Bộ luật Hàng hải, Luật Hàng không dân dụng, Luật Thương mại) với BLDS theo nguyên tắc ưu tiên luật chuyên ngành nhưng phải tuân thủ các nguyên tắc nền tảng của BLDS.
  4. Đề xuất hoàn thiện các hệ thuộc luật cụ thể: mở rộng quyền tự định đoạt lựa chọn luật (lex voluntatis) trong hợp đồng thương mại; làm rõ hệ thuộc luật nơi thực hiện nghĩa vụ chính; xác định rõ tiêu chí áp dụng nguyên tắc trật tự công cộng để tránh áp dụng tùy tiện trong xét xử.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Các giới hạn được văn bản luận án xác định:

  • Về phạm vi lịch sử: Luận án giới hạn nghiên cứu từ ngày 30/4/1975 trở đi, không khảo cứu các văn bản và án lệ của chế độ cũ ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975.
  • Về cơ chế thi hành: Đề tài tập trung chủ yếu vào cấu trúc nội tại và kỹ thuật lập pháp của hệ thống quy phạm xung đột (mô hình, trật tự thứ bậc, nội dung điều khoản), không đi sâu nghiên cứu toàn diện các thiết chế bảo đảm thi hành bên ngoài như tổ chức bộ máy cơ quan tư pháp hay kinh phí thực thi.
  • Về thực tiễn xét xử: Do điều kiện lưu trữ và công khai bản án thời điểm năm 2008 còn hạn chế, các vụ việc tranh chấp được đưa vào khảo sát mang tính chất chọn lọc điển hình, chưa thực hiện được việc tổng kiểm kê toàn bộ án văn liên quan đến quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trên toàn quốc.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục nghiên cứu sâu việc nội luật hóa các công ước quốc tế đa phương thuộc khuôn khổ Hội nghị Lahay về tư pháp quốc tế; xây dựng cơ chế thực tiễn chi tiết cho việc thu thập và chứng minh pháp luật nước ngoài tại Tòa án Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu nghiên cứu chuyên khảo có giá trị ứng dụng cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Cơ quan lập pháp và cơ quan quản lý nhà nước (Quốc hội, Bộ Tư pháp): Cung cấp cơ sở lý luận và đề xuất điều khoản cụ thể cho việc sửa đổi, bổ sung Phần quy hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trong các lần sửa đổi Bộ luật Dân sự (đặc biệt có giá trị tham khảo nền tảng cho việc soạn thảo Phần thứ năm của BLDS năm 2015 sau này) và đàm phán các Hiệp định tương trợ tư pháp mới.
  • Cơ quan tiến hành tố tụng (Tòa án nhân dân, Trọng tài thương mại): Giúp Thẩm phán và Trọng tài viên nắm vững phương pháp giải thích, tra cứu và áp dụng đúng cấu trúc quy phạm xung đột, quy tắc dẫn chiếu pháp luật và giới hạn của việc bảo lưu trật tự công cộng.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Luật Quốc tế và Tư pháp quốc tế: Cung cấp hệ thống tài liệu tổng thuật phong phú, sáng rõ về mặt khái niệm, cấu trúc hệ thuộc luật và phương pháp so sánh luật học trong lĩnh vực xung đột pháp luật.

Câu hỏi thường gặp

1. Quy phạm pháp luật xung đột khác biệt như thế nào so với quy phạm pháp luật thực chất thông thường?

Quy phạm thực chất trực tiếp quy định quyền, nghĩa vụ của các chủ thể và các biện pháp chế tài xử lý vi phạm. Ngược lại, quy phạm xung đột mang tính chất quy phạm gián tiếp: không trực tiếp trao quyền hay đặt ra nghĩa vụ cụ thể, cũng không quy định chế tài, mà chỉ có chức năng duy nhất là xác định hệ thống pháp luật của quốc gia nào được áp dụng để giải quyết quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.

2. Cấu trúc nội tại của một quy phạm pháp luật xung đột gồm những bộ phận nào?

Quy phạm xung đột không có 3 bộ phận giả định, quy định, chế tài như quy phạm thông thường mà gồm 02 bộ phận:

  • Phần phạm vi: Xác định quan hệ xã hội mang tính chất dân sự có yếu tố nước ngoài thuộc đối tượng điều chỉnh.
  • Phần hệ thuộc: Xác định hệ thống pháp luật của quốc gia cụ thể sẽ được áp dụng để điều chỉnh quan hệ đó.

3. Tác giả luận án có đề xuất ban hành một Đạo luật riêng biệt về Tư pháp quốc tế tại Việt Nam không?

Không. Sau khi phân tích kinh nghiệm quốc tế và điều kiện thực tiễn Việt Nam, tác giả lập luận rằng không nên xây dựng một đạo luật riêng biệt về TPQT trong giai đoạn này. Thay vào đó, giải pháp tối ưu là tập trung hoàn thiện Phần thứ bảy của Bộ luật Dân sự (về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài) để đóng vai trò là "Đạo luật chung", làm hạt nhân trung tâm cho toàn bộ hệ thống quy phạm xung đột quốc gia.

4. Thứ bậc ưu tiên áp dụng giữa quy phạm xung đột trong Điều ước quốc tế và quy phạm xung đột trong văn bản luật trong nước được giải quyết ra sao?

Theo nguyên tắc cam kết quốc tế và quy định tại Khoản 2 Điều 759 BLDS năm 2005 (cũng như Điều 142 BLDS Trung Quốc năm 1986 được viện dẫn so sánh), trong trường hợp có sự khác nhau giữa quy định của Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên với văn bản pháp luật trong nước thì quy phạm xung đột trong Điều ước quốc tế luôn được ưu tiên áp dụng.

5. Hệ thuộc luật nhân thân (lex personalis) bao gồm những dạng cụ thể nào và có ưu, nhược điểm gì?

Hệ thuộc luật nhân thân gồm 02 dạng:

  • Luật quốc tịch (lex patriae): Có ưu điểm ổn định cao do quốc tịch khó thay đổi, nhưng nhược điểm là gây khó khăn cho việc hòa nhập của người định cư lâu năm ở nước ngoài và phức tạp khi xử lý trường hợp mang nhiều quốc tịch.
  • Luật nơi cư trú (lex domicilii): Có ưu điểm linh hoạt, tạo điều kiện cho người nhập cư nhanh chóng hòa nhập, nhưng nhược điểm là thiếu tính ổn định khi nơi cư trú thay đổi thường xuyên hoặc khi một người có nhiều nơi cư trú.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Bá Chiến là công trình nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật xung đột tại Việt Nam. Bằng phương pháp nghiên cứu luật học thực định kết hợp so sánh quốc tế, tác giả đã làm sáng rõ cấu trúc, đặc điểm và vai trò của các hệ thuộc xung đột pháp luật trong bối cảnh hội nhập kinh tế. Các luận điểm và giải pháp do luận án đề xuất đã cung cấp luận cứ khoa học quan trọng cho công tác lập pháp, góp phần định hình sự phát triển của ngành Tư pháp quốc tế Việt Nam.