Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học "Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật xung đột ở Việt Nam" do nghiên cứu sinh Nguyễn Bá Chiến thực hiện tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2008, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Bá Diến, thuộc chuyên ngành Luật Quốc tế (mã số: 62 38 60 01).
+---------------------------------------------------------------------------------------------+
| THÔNG TIN CHUNG VỀ CÔNG TRÌNH |
+-----------------------+---------------------------------------------------------------------+
| Tên đề tài | Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoàn thiện hệ thống quy phạm |
| | pháp luật xung đột ở Việt Nam |
| Tác giả | Nguyễn Bá Chiến |
| Cơ sở đào tạo | Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội |
| Chuyên ngành & Mã số | Luật Quốc tế – 62 38 60 01 |
| Người hướng dẫn | PGS. Nguyễn Bá Diến |
| Năm hoàn thành | 2008 |
| Loại hình nghiên cứu | Định tính (Phân tích luật học thực định, so sánh và tổng hợp lý luận)|
+-----------------------+---------------------------------------------------------------------+
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam sau hai thập kỷ đổi mới làm gia tăng các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài. Tác giả dẫn chứng bằng các dữ liệu thực tế tại thời điểm thực hiện đề tài:
- Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Năm 2007 đạt 20,3 tỉ USD, gấp đôi dự kiến ban đầu và chiếm 25% tổng số vốn đầu tư trong 20 năm trước đó.
- Hoạt động du lịch: Lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong 7 tháng đầu năm 2007 đạt hơn 2,46 triệu lượt, tăng 16,2% so với cùng kỳ năm trước.
- Đầu tư ra nước ngoài: Tính đến hết quý I năm 2007, Việt Nam có 200 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư hơn 1.003,95 triệu USD.
- Xuất khẩu lao động: Năm 2005, Việt Nam đưa gần 71.000 người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
- Quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài: Tính đến năm 2003, đã có gần 70.000 trường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài được giải quyết.
- Kiều bào: Khoảng 3 triệu người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Sự phát triển của các quan hệ xã hội này đặt ra yêu cầu phải áp dụng pháp luật nước ngoài và hoàn thiện quy phạm xung đột. Tuy nhiên, hệ thống quy phạm xung đột của Việt Nam bộc lộ nhiều bất cập: thiếu quy phạm mang tính nguyên tắc nền tảng về chính sách tư pháp quốc tế; thiếu tính đồng bộ, thống nhất; một số quy định chưa phù hợp với thực tiễn; tồn tại khoảng trống pháp luật trong một số lĩnh vực cụ thể.
Mục tiêu nghiên cứu
- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật xung đột ở Việt Nam.
- Lập luận và đề xuất những quan điểm, phương hướng và giải pháp cụ thể để hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật xung đột ở Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Về cơ sở lý luận: Phân tích các vấn đề lý luận cơ bản về quy phạm xung đột và hệ thống quy phạm xung đột; làm rõ đặc điểm quan hệ mang tính chất dân sự có yếu tố nước ngoài và vai trò điều chỉnh của quy phạm xung đột; chứng minh tính tất yếu khách quan của việc hoàn thiện hệ thống; khảo cứu kinh nghiệm pháp lý quốc tế.
- Về cơ sở thực tiễn: Phân tích thực trạng quy phạm xung đột trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết; đánh giá ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân; xem xét thực tiễn áp dụng qua các vụ việc cụ thể.
- Về phương hướng và giải pháp: Xác định quan điểm, phương hướng định hướng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện cụ thể.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống quy phạm pháp luật xung đột ở Việt Nam, bao gồm quan hệ xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh và các quy phạm xung đột trong các lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh doanh, thương mại, tố tụng dân sự (trong văn bản pháp luật quốc gia và điều ước quốc tế).
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian và nguồn: Tập trung vào hệ thống pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế Việt Nam là thành viên; chọn lọc phân tích các quy phạm nước ngoài điển hình để so sánh.
- Về thời gian: Khảo cứu hệ thống pháp luật từ thời điểm đất nước thống nhất (30/4/1975) đến năm 2008, không khảo cứu hệ thống pháp luật miền Nam trước năm 1975.
- Về nội dung: Đi sâu vào các yếu tố nội tại (mô hình, cấu trúc, trật tự của hệ thống) và các quy phạm còn tồn tại bất cập, không đi sâu vào cơ chế bảo đảm thi hành bên ngoài.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân loại và điểm lại các công trình nghiên cứu trước đây theo từng nhóm nội dung:
Các công trình nghiên cứu trong nước
- Giáo trình và công trình tổng quan về tư pháp quốc tế:
- Giáo trình Tư pháp quốc tế (TS. Nguyễn Bá Diến chủ biên, 2001).
- Một số vấn đề lý luận cơ bản về Tư pháp quốc tế (TS. Đoàn Năng, 2001).
- Tư pháp quốc tế Việt Nam (TS. Đỗ Văn Đại và PGS. Mai Hồng Quỳ, 2006).
- Luật Tư pháp quốc tế (Tài liệu hội thảo Nhà pháp luật Việt - Pháp, 1995).
- Nghiên cứu chuyên đề lý luận và từng chế định cụ thể:
- Nguyễn Trung Tín (1999, 2004) với các bài viết về vị trí của tư pháp quốc tế, quy phạm xung đột trong Bộ luật Dân sự, xác định quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.
- TS. Bùi Xuân Nhự (2007) về nhất thể hóa và hài hòa hóa pháp luật.
- Nguyễn Bá Chiến (2003, 2004, 2006) về chọn luật trong hợp đồng, bảo lưu trật tự công cộng, quyền chọn luật của chủ thể.
- ThS. Bùi Thị Thu (2005) về Công ước Roma 1980; Đỗ Văn Đại (2002, 2003) về định danh, thừa kế, dẫn chiếu; Trần Văn Thắng (2000) về hệ thống quy phạm tư pháp quốc tế; Thái Công Khanh (2004), Nguyễn Quang Hưng (2005), Đặng Thị Thu Thảo (2005) về khái niệm tư pháp quốc tế.
- Nghiên cứu về thực trạng và kiến nghị sửa đổi pháp luật:
- Nguyễn Tiến Vinh (2003) về Phần thứ bảy Bộ luật Dân sự; Đoàn Năng (1998) về hệ thống quy phạm xung đột; Ngô Huy Cương (1997) về xung đột pháp luật hàng không; Nguyễn Hồng Bắc (1998, 2001) về thừa kế trong điều ước quốc tế, hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài; Đinh Trung Tụng (2005) bình luận Bộ luật Dân sự 2005; Nguyễn Phương Lan (2004).
- Nghiên cứu về thực tiễn xét xử và áp dụng pháp luật:
- Đề tài của Nguyễn Thu Giang (2003); Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2006) về hôn nhân với người nước ngoài; Phạm Công Bảy (2006) về tranh chấp xuất khẩu lao động; Trần Văn Tuân (2005) về thừa kế nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
- Các đề tài khoa học và luận án tiến sĩ liên quan:
- Đề tài cấp bộ của TS. Vũ Đức Long (2002) về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài (nghiên cứu trước khi có Bộ luật Dân sự 2005).
- Luận án tiến sĩ của Nguyễn Công Khanh (2003) và Nông Quốc Bình (2003) (nghiên cứu cả quy phạm thực chất và chỉ giới hạn trong một số lĩnh vực tài sản, thừa kế, hôn nhân).
Các công trình nghiên cứu nước ngoài
- Nghiên cứu lý thuyết xung đột pháp luật: J. Morris (The Conflict of laws, 1984); Michael Freeman (Conflict of laws, 2004); Lea Brilmayer (Conflict of laws - Foundations and Future Directions, 1991).
- Nghiên cứu so sánh hệ thống pháp luật Hoa Kỳ và Canada: William Tetley (A Canadian Looks at American Conflict of Law Theory and Practice); Carolyn Hotchkiss (Luật quốc tế về doanh nghiệp, Võ Hưng Thanh dịch, 1993); Kaltons Solicitors (Conflicting Jurisdictions in an Online Environment - The Yahoo! Case, 2001).
Khoảng trống nghiên cứu
Các công trình trước đây chủ yếu phục vụ giảng dạy chung, nghiên cứu một vài chế định riêng lẻ, kết hợp quy phạm thực chất với quy phạm xung đột, hoặc được thực hiện trước thời điểm ban hành Bộ luật Dân sự năm 2005. Chưa có công trình nào nghiên cứu tổng thể, chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống về cơ sở lý luận lẫn thực tiễn của việc hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật xung đột tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
- Cơ sở lý luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Pháp luật là bộ phận của kiến trúc thượng tầng, chịu sự quy định của cơ sở kinh tế và quan hệ xã hội khách quan. Hệ thống quy phạm xung đột được đặt trong trạng thái vận động và gắn liền với lịch sử phát triển của đất nước.
- Khái niệm xung đột pháp luật (Conflict of laws): Là hiện tượng có hai hay nhiều hệ thống pháp luật khác nhau cùng có thể được áp dụng để điều chỉnh một quan hệ mang tính chất dân sự có yếu tố nước ngoài.
- Quy phạm pháp luật xung đột: Là quy phạm không trực tiếp quy định quyền, nghĩa vụ của các chủ thể hay biện pháp chế tài, mà chỉ xác định hệ thống pháp luật của quốc gia nào được áp dụng.
- Cấu trúc quy phạm xung đột: Gồm hai bộ phận đặc thù:
- Phần phạm vi: Chỉ ra quan hệ xã hội được quy phạm điều chỉnh.
- Phần hệ thuộc: Chỉ ra hệ thống pháp luật của quốc gia được áp dụng.
- Hệ thống quy phạm xung đột: Là tập hợp các quy phạm xung đột trong các lĩnh vực khác nhau, có mối liên hệ nội tại thống nhất theo trật tự quy luật nhằm điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng hoàn toàn phương pháp nghiên cứu định tính trong khoa học pháp lý, bao gồm:
- Phương pháp phân tích luật học thực định: Phân tích các điều khoản, câu chữ, cấu trúc quy phạm trong các đạo luật và điều ước quốc tế để làm rõ nội hàm, ưu điểm và hạn chế.
- Phương pháp so sánh pháp luật: Đối chiếu quy định của pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ; so sánh giữa pháp luật Việt Nam với điều ước quốc tế và pháp luật một số nước (Nhật Bản, Ba Lan, Trung Quốc, Thái Lan, Anh, Mỹ).
- Phương pháp tổng hợp và đối chiếu: Tổng hợp các công trình nghiên cứu lý luận; đối chiếu quy định pháp luật với thực tiễn phát sinh tranh chấp.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam: Bộ luật Dân sự (1995, 2005), Luật Hôn nhân và Gia đình (2000), Bộ luật Hàng hải (1990, 2005), Luật Hàng không dân dụng (1991), Nghị định 60/CP (1997), Nghị định 138/2006/NĐ-CP (2006).
- Điều ước quốc tế: Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Công ước Roma 1980 về luật áp dụng đối với nghĩa vụ hợp đồng, Công ước La Hay (1905, 1955), hơn 10 Hiệp định tương trợ tư pháp song phương (với Nga 1998, Lào 1998, Ucraina 2000, Bungari 1986...) và 13 hiệp định song phương về nuôi con nuôi.
- Văn bản pháp luật nước ngoài: Luật về áp dụng pháp luật Nhật Bản (1898), Luật Tư pháp quốc tế Ba Lan (1965), Bộ luật Dân sự Trung Quốc (1986), Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan (1925).
- Dữ liệu thực tiễn: Các báo cáo thực tiễn xét xử, số liệu thống kê kinh tế - xã hội được công bố từ Tổng cục Du lịch, Tòa án nhân dân tối cao và các cơ quan quản lý nhà nước.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật xung đột
Chương này tập trung xây dựng nền tảng lý luận về quy phạm xung đột và hệ thống quy phạm xung đột:
- Đặc điểm của quy phạm xung đột: Không trực tiếp quy định quyền/nghĩa vụ; không quy định trực tiếp chế tài; chỉ có chức năng chỉ dẫn hệ thống pháp luật áp dụng (khi dẫn chiếu đến luật của một nước thì toàn bộ quy phạm liên quan của nước đó, gồm văn bản, tập quán, tiền lệ pháp đều có thể được áp dụng).
- Phân loại quy phạm xung đột:
- Căn cứ vào hình thức: Quy phạm một chiều (chỉ dẫn áp dụng luật nước sở tại) và quy phạm hai chiều (quy định nguyên tắc chung để chọn luật).
- Căn cứ vào phạm vi: Quy phạm về năng lực hành vi, hợp đồng, thừa kế, hôn nhân gia đình...
- Căn cứ vào tính chất: Quy phạm mệnh lệnh (bắt buộc áp dụng) và quy phạm tùy nghi (cho phép các bên thỏa thuận chọn luật).
- Căn cứ vào nguồn: Quy phạm thông thường (trong luật quốc gia) và quy phạm thống nhất (trong điều ước quốc tế hoặc tập quán quốc tế).
+---------------------------------------------------------------------------------------------------------------+
| CÁC HỆ THUỘC CƠ BẢN CỦA QUY PHẠM XUNG ĐỘT TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ |
+------------------------------------+------------------------------------------+-------------------------------+
| Tên hệ thuộc | Thuật ngữ La-tinh | Phạm vi áp dụng chủ yếu |
+------------------------------------+------------------------------------------+-------------------------------+
| Luật nhân thân | Lex personalis | Năng lực pháp luật, hành vi, |
| - Luật quốc tịch | - Lex patriae / Lex nationalis | quan hệ gia đình, thừa kế |
| - Luật nơi cư trú | - Lex domicilii | động sản |
| Luật quốc tịch của pháp nhân | Lex societatis | Tư cách pháp lý của pháp nhân |
| Luật nơi có tài sản | Lex rei sitae | Quyền sở hữu, bất động sản |
| Luật tòa án | Lex fori | Tố tụng, hôn nhân, lao động |
| Luật nơi thực hiện hành vi | Lex loci actus | |
| - Luật nơi giao kết hợp đồng | - Lex loci contractus | Hình thức hợp đồng |
| - Luật nơi thực hiện hợp đồng | - Locus regit actum | Nội dung hợp đồng |
| - Luật nơi thực hiện nghĩa vụ | - Lex loci solutionis | Nghĩa vụ hợp đồng |
| - Luật nơi tiến hành kết hôn | - Lex loci celebrationis | Nghi thức kết hôn |
| - Luật nơi thực hiện công việc | - Lex loci laboris | Quan hệ lao động |
| Luật nơi xảy ra vi phạm pháp luật | Lex loci delicti commissi | Bồi thường thiệt hại ngoài HĐ |
| Luật do các bên lựa chọn | Lex voluntatis | Hợp đồng dân sự, thương mại |
| Luật quốc kỳ | Lex banderae | Tàu biển, phương tiện vận tải |
| Luật nơi đăng ký phương tiện | Lex libri sitae | Đăng ký tàu bay, tàu biển |
+------------------------------------+------------------------------------------+-------------------------------+
- Đặc điểm của hệ thống quy phạm xung đột:
- Tính khách quan: Hình thành từ thực tiễn các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.
- Tính chủ quan: Chịu sự chi phối bởi đường lối đối ngoại, chính sách tư pháp quốc tế và ý chí của nhà làm luật trên cơ sở chủ quyền quốc gia.
- Tính thống nhất và hài hòa: Thể hiện qua trật tự thứ bậc (điều ước quốc tế ưu tiên áp dụng so với luật quốc gia; văn bản cấp dưới phù hợp văn bản cấp trên) và mối quan hệ giữa cái chung (quy định trong Bộ luật Dân sự) với cái riêng (quy định trong các luật chuyên ngành).
Chương 2: Thực trạng hệ thống quy phạm pháp luật xung đột ở Việt Nam
Chương 2 đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thi hành:
- Lịch sử phát triển: Quá trình phát triển các quy phạm xung đột tại Việt Nam từ sau năm 1975 gắn liền với các mốc đổi mới kinh tế, ban hành Bộ luật Dân sự 1995 và Bộ luật Dân sự 2005.
- Thực trạng trong văn bản pháp luật quốc gia:
- Khảo sát các quy định tại Phần thứ bảy Bộ luật Dân sự 2005, Chương XI Luật Hôn nhân và Gia đình 2000, Bộ luật Hàng hải 2005, Luật Hàng không dân dụng 1991 và Nghị định số 138/2006/NĐ-CP.
- Phân tích những điểm bất cập: một số quy phạm còn thiếu tính đồng bộ; nhiều quan hệ xã hội mới phát sinh chưa có quy phạm xung đột điều chỉnh; kỹ thuật lập pháp trong việc xây dựng hệ thuộc chưa đạt độ linh hoạt cần thiết.
- Thực trạng trong điều ước quốc tế: Đánh giá các quy phạm xung đột trong các Hiệp định tương trợ tư pháp song phương (với Liên bang Nga, Ba Lan, Tiệp Khắc, Bungari, Lào, Ucraina...) và các thỏa thuận song phương về nuôi con nuôi. Số lượng các điều ước quốc tế đa phương chứa đựng quy phạm xung đột thống nhất mà Việt Nam tham gia còn rất ít.
- Thực tiễn áp dụng: Tòa án và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền còn gặp khó khăn, lúng túng khi giải thích, áp dụng quy phạm xung đột và tra cứu, áp dụng pháp luật nước ngoài; một số trường hợp có xu hướng lạm dụng việc áp dụng luật tòa án (lex fori) để từ chối áp dụng luật nước ngoài.
Chương 3: Những quan điểm, phương hướng và giải pháp hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật xung đột ở Việt Nam
Chương 3 đề xuất định hướng và giải pháp cụ thể:
- Tính tất yếu khách quan: Hoàn thiện hệ thống quy phạm xung đột là đòi hỏi tất yếu nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên tham gia quan hệ, thúc đẩy giao lưu quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền.
- Quan điểm định hướng cơ bản:
- Không xây dựng một đạo luật riêng biệt về tư pháp quốc tế; tiếp tục coi Phần thứ bảy của Bộ luật Dân sự là bộ phận nền tảng, giữ vai trò cái chung.
- Xử lý hài hòa mối quan hệ giữa Bộ luật Dân sự và các luật chuyên ngành (kinh doanh, thương mại, hôn nhân và gia đình, lao động, tố tụng dân sự).
- Tôn trọng cam kết quốc tế và bảo đảm tính tương thích với pháp luật quốc tế.
- Phương hướng hoàn thiện: Bảo đảm tính toàn diện, đồng bộ, thống nhất; mở rộng phạm vi áp dụng của hệ thuộc luật do các bên lựa chọn (lex voluntatis) đối với quan hệ hợp đồng; điều chỉnh linh hoạt hệ thuộc luật nhân thân.
- Các nhóm giải pháp cụ thể:
- Sửa đổi, bổ sung trực tiếp các quy phạm xung đột cụ thể trong Bộ luật Dân sự và các luật chuyên ngành.
- Tích cực đàm phán, ký kết mới và gia nhập các điều ước quốc tế song phương, đa phương về tư pháp quốc tế.
- Tăng cường công tác hướng dẫn áp dụng pháp luật, xây dựng cơ chế phối hợp cung cấp thông tin pháp luật nước ngoài và nâng cao năng lực cho đội ngũ thẩm phán, cán bộ tư pháp.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm và cấu trúc của hệ thống quy phạm xung đột; xác định các yếu tố tác động và tiêu chí đánh giá tính hoàn thiện của hệ thống này trong điều kiện hội nhập.
- Phân tích ưu điểm và hạn chế của phương thức điều chỉnh bằng quy phạm xung đột so với quy phạm thực chất.
- Luận giải cơ sở khoa học về việc Việt Nam không nên xây dựng một đạo luật chuyên biệt về tư pháp quốc tế mà cần duy trì, nâng cao vai trò nền tảng của Phần thứ bảy Bộ luật Dân sự trong mối quan hệ gắn kết với các luật chuyên ngành.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Rà soát, đánh giá toàn diện thực trạng các quy phạm xung đột trong hệ thống văn bản pháp luật quốc gia và các hiệp định song phương của Việt Nam, chỉ ra các khoảng trống và điểm mâu thuẫn.
- Phân tích nguyên nhân của những tồn tại trong quá trình áp dụng pháp luật của Tòa án nhân dân và các cơ quan có thẩm quyền.
- Đề xuất hệ thống các giải pháp cụ thể nhằm sửa đổi, bổ sung quy phạm xung đột trong Bộ luật Dân sự và các văn bản luật chuyên ngành, đồng thời định hướng ký kết, tham gia các điều ước quốc tế về tư pháp quốc tế.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu thực tiễn từ sau ngày 30/4/1975, không khảo cứu các quy định pháp luật ở miền Nam trước năm 1975.
- Nghiên cứu tập trung chủ yếu vào các quy phạm xung đột còn bất cập, chưa phân tích toàn bộ tất cả quy phạm trong mọi văn bản pháp luật chuyên ngành.
- Khảo sát thực tiễn áp dụng chỉ dừng lại ở một số vụ việc cụ thể mang tính chất điển hình do hạn chế về nguồn lưu trữ án lệ và bản án thời kỳ đó.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế xác định và áp dụng nội dung pháp luật nước ngoài trong hoạt động xét xử của Tòa án Việt Nam.
- Nghiên cứu khả năng gia nhập các Công ước đa phương thuộc khuôn khổ Hội nghị La Hay về Tư pháp quốc tế.
- Khảo sát sự phối hợp giữa quy phạm xung đột và quy phạm thực chất trong các lĩnh vực mới phát sinh của thương mại quốc tế và không gian điện tử.
Giá trị tham khảo
Đối tượng thụ hưởng
- Nhà nghiên cứu, giảng viên, sinh viên, học viên ngành Luật: Sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy môn học Tư pháp quốc tế, Luật So sánh và Luật Dân sự.
- Cơ quan xây dựng pháp luật: Cung cấp luận cứ khoa học cho Quốc hội, Bộ Tư pháp trong việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự và các đạo luật chuyên ngành có liên quan.
- Cơ quan thực thi pháp luật (Thẩm phán, Trọng tài viên, Luật sư): Cung cấp cơ sở lý luận và phương pháp nhận diện, áp dụng quy phạm xung đột khi giải quyết tranh chấp có yếu tố nước ngoài.
Nội dung có giá trị sử dụng cao
- Hệ thống hóa các hệ thuộc luật La-tinh và nguyên tắc áp dụng trong Chương 1.
- Danh mục phân tích các bất cập cụ thể trong Bộ luật Dân sự 2005 và các Hiệp định tương trợ tư pháp trong Chương 2.
- Các định hướng về giải quyết mối quan hệ giữa luật chung và luật riêng trong Chương 3.
Câu hỏi thường gặp
1. Quy phạm pháp luật xung đột có cấu trúc như thế nào và khác gì so với quy phạm pháp luật thông thường?
Quy phạm pháp luật thông thường có cấu trúc gồm giả định, quy định và chế tài. Ngược lại, quy phạm pháp luật xung đột có cấu trúc đặc thù gồm hai bộ phận: Phần phạm vi (chỉ ra loại quan hệ xã hội được điều chỉnh) và Phần hệ thuộc (chỉ ra hệ thống pháp luật của quốc gia nào được áp dụng). Quy phạm xung đột không trực tiếp phân định quyền, nghĩa vụ hay chế tài của các bên.
2. Tác giả luận án ủng hộ quan điểm nào về mô hình lập pháp tư pháp quốc tế tại Việt Nam?
Tác giả lập luận không nên xây dựng một đạo luật riêng biệt về tư pháp quốc tế (như mô hình của Ba Lan hay Nhật Bản). Thay vào đó, Việt Nam nên tiếp tục duy trì và hoàn thiện Phần quy định về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trong Bộ luật Dân sự (làm cái chung) kết hợp với các quy phạm trong luật chuyên ngành (làm cái riêng).
3. Các hệ thuộc luật nhân thân (lex personalis) bao gồm những dạng nào và ưu nhược điểm ra sao?
Hệ thuộc luật nhân thân gồm hai dạng:
- Luật quốc tịch (lex patriae): Có ưu điểm ổn định cao; nhược điểm là cứng nhắc đối với người nhập cư lâu năm hoặc trường hợp mang nhiều quốc tịch.
- Luật nơi cư trú (lex domicilii): Có ưu điểm linh hoạt, thuận lợi cho việc hòa nhập; nhược điểm là thiếu ổn định do nơi cư trú dễ thay đổi.
4. Hệ thống quy phạm pháp luật xung đột của một quốc gia bao gồm những nguồn nào?
Hệ thống này bao gồm hai nguồn cấu thành chính: các quy phạm xung đột trong các văn bản quy phạm pháp luật quốc gia (hoặc án lệ, tập quán pháp đối với các nước thừa nhận) và các quy phạm xung đột thống nhất nằm trong các điều ước quốc tế mà quốc gia đó ký kết hoặc tham gia.
5. Nguyên tắc thứ bậc ưu tiên áp dụng quy phạm xung đột được xác định như thế nào?
Quy phạm xung đột trong các điều ước quốc tế mà quốc gia là thành viên luôn được ưu tiên áp dụng so với quy phạm xung đột trong văn bản pháp luật quốc gia. Trong nội bộ pháp luật quốc gia, quy phạm do cơ quan cấp dưới ban hành phải phù hợp và không được trái với quy phạm do cơ quan cấp trên ban hành.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Bá Chiến là công trình nghiên cứu hệ thống về cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật xung đột tại Việt Nam. Công trình đã làm rõ cấu trúc, đặc điểm và các hệ thuộc cơ bản của quy phạm xung đột, đồng thời đánh giá thực trạng các văn bản luật thực định và điều ước quốc tế tại thời điểm năm 2008. Luận án khẳng định mô hình duy trì Phần quy định về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trong Bộ luật Dân sự làm trung tâm, cung cấp các luận cứ khoa học phục vụ công tác lập pháp và áp dụng pháp luật trong bối cảnh hội nhập quốc tế.