phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng. Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về lao động nữ, quyền của lao động nữ và vấn đề bảo vệ quyền lao động nữ. Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật về bảo vệ quyền của lao động nữ. Chƣơng 3: Quan điểm và một số kiến nghị, giải pháp về bảo vệ quyền của lao động nữ trong pháp luật Việt Nam.
13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LAO ĐỘNG NỮ, QUYỀN CỦA LAO ĐỘNG NỮ VÀ VẤN ĐỀ BẢO VỆ QUYỀN CỦA LAO ĐỘNG NỮ. Những vấn lề lý luận cơ bản về lao động nữ và quyền của lao động nữ 1. Khái niệm và đặc điểm của lao động nữ a) Khái niệm lao động nữ Lao động là hoạt động đặc trƣng mang tính sáng tạo của con ngƣời trong quá trình sống, tồn tại và thích nghi với thế giới tự nhiên cũng nhƣ xã hội.
Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con ngƣời nhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ cho các nhu cầu của đời sống xã hội. Tính đến tháng 6 năm 2014, dân số Việt Nam là trên 90 triệu ngƣời, trong đó nam có 43.731 ngƣời (chiếm 49,5%), nữ có 4. Dân số Việt Nam thuộc nhóm “cơ cấu dân số trẻ”, vì vậy Đảng và Nhà nƣớc hết sức quan tâm đến sự ổn định của nguồn lao động. Theo quan điểm của Mác “Ngƣời lao động là ngƣời sử dụng tƣ liệu sản xuất của chính mình hoặc của ngƣời khác một cách hợp pháp để sản xuất ra sản phẩm có giá trị sử dụng”[28,tr,87].
Căn cứ vào giới tính, ngƣời lao động đƣợc chia làm hai loại: Lao động nam và lao động nữ. Giữa hai chủ thể này có những đặc tính và cách thức thực hiện công việc khác nhau. Trong cơ cấu lực lƣợng lao động của xã hội thì lao động nữ chiếm một tỷ trọng rất lớn. Theo số liệu của Ủy ban vì sự tiến bộ của phụ nữ đƣa ra thì tỉ lệ lao động nữ là 50,6% [28].
Phụ nữ tham gia vào hầu hết các lĩnh vực, các ngành và các khâu của quá trình kinh doanh, xuất khẩu. Góp một phần không nhỏ tạo ra một lƣợng lớn của cải vật chất của toàn xã hội. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khoản 1, Điều 3, Bộ luật lao động 2012 thì ngƣời lao động phải có các điều kiện sau:“Người ít nhất 15 tuổi, có khả năng lao động, có giao kết hợp đồng lao động và được trả lương, chịu sự quản lí điều hành của người sử dụng lao động”. Phụ nữ tham gia quan hệ lao động đƣợc xác minh là ngƣời lao động khi đáp ứng mọi điều kiện về năng lực pháp luật và năng lực hành vi.
Ngoài ra, lao động nữ còn có thể là ngƣời lao động dƣới 15 tuổi có khả năng tham gia vào quan hệ lao động trong một số ngành nghề công việc đòi hỏi không áp lực và không quá sức lao động. Tiếp đó, điều kiện quan trọng nhất đó là vấn đề về mặt chủ thể. Trong các văn bản pháp luật từ trƣớc tới nay chƣa đƣa ra định nghĩa cụ thể nào về lao động nữ, tuy nhiên, trên cơ sở quy định của pháp luật về lao động có thể hiểu: “Lao động nữ là người lao động có giới tính nữ, đủ 15 tuổi trở lên, có giao kết hợp đồng lao động với người sử dụng lao động và được bảo đảm đầy đủ quyền lợi, nghĩa vụ cũng như các điều kiện khác của người lao động theo quy định của pháp luật Việt Nam”. Mặc dù nguồn lao động của nƣớc ta dồi dào, cơ cấu lao động trẻ và tỉ số lao động nam nữ cũng tƣơng đồng, nhƣng ngƣời phụ nữ trong độ tuổi lao động tham gia lao động hiện nay đã đƣợc đảm bảo các quyền lợi cũng nhƣ các điều kiện mà theo nghiên cứu của các nhà làm luật và các quy định cụ thể của pháp luật hay chƣa lại là một vấn đề cần phải nghiên cứu.
Nhƣ chúng ta đã biết, các chủ thể trong quan hệ lao động trên thế giới không quy định tách biệt về vấn đề lao động và việc làm, tuy nhiên về quyền lợi và việc bảo đảm các quyền lợi đƣợc thực thi trong thực tế đối với các chủ thể lại cần thiết. Đặc biệt là đối với ngƣời lao động nữ, một chủ thể đặc biệt mang một đặc điểm đặc trƣng riêng và họ cần đƣợc bảo vệ. b) Đặc điểm lao động nữ 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sự khác biệt về đặc điểm đã ảnh hƣởng rất lớn đến cơ hội thăng tiến, việc làm, học vấn, trách nhiệm của ngƣời phụ nữ trong gia đình. Trên cơ sở chức năng làm mẹ và chăm sóc gia đình, ngƣời lao động nữ có những đặc điểm nhận biết riêng nhƣ sau: Lao động nữ vừa phải thực hiện các hoạt động lao động chuyên môn, vừa phải thực hiện “thiên chức” mặc định.
Lao động nữ vừa thực hiện nhiệm vụ của ngƣời lao động đồng thời lại vừa thực hiện thiên chức làm vợ, làm mẹ. Đây là đặc điểm dễ nhận biết nhất của ngƣời lao động nữ. Do cấu tạo về hình dáng cơ thể, tâm sinh lý mà chỉ có ngƣời phụ nữ mới có khả năng sinh đẻ. Có thể nói đây là đặc điểm chung của giới tính nữ (trừ một số trường hợp do nguyên nhân khách quan làm ảnh hưởng đến thiên chức thiêng liêng này).
Sự khác biệt giữa lao động nữ và lao động nam chính là việc ngƣời phụ nữ sẽ phải trải qua các thời kỳ mang tính tự nhiên nhƣ: mang thai, sinh đẻ, nuôi con, kinh nguyệt hàng tháng, chăm sóc khi con nhỏ ốm đau…). Nhƣ vậy chỉ có giới tính nữ đang có công việc cụ thể tại một đơn vị, cơ quan, tổ chức nhất định mới thực hiện song song hai nhiệm vụ làm mẹ và thực hiện công việc cụ thể đƣợc giao mà cả hai nhiệm vụ trên đều đòi hỏi trách nhiệm, khả năng chịu đựng không hề nhỏ của Lao động nữ. Ngoài hoạt động chuyên môn, lao động nữ còn chăm sóc gia đình, quán xuyến việc nhà bởi theo quan niệm truyền thống ở Việt Nam lao động nữ thể hiện vai trò này tốt hơn nhiều so với lao động nam. Đồng thời cũng là đặc điểm để nhận biết nhất giữa lao động nam và lao động nữ.
Đặc điểm này bắt nguồn từ tính vị tha, từ bản chất vốn có của ngƣời phụ nữ .Với họ gia đình là tất cả, việc chăm sóc chồng con mới là ý nghĩa cuối cùng của bản thân họ. Ngoài ra còn do sự tác động của tƣ tƣởng trọng nam khinh nữ đã ăn sâu vào tiềm thức con ngƣời từ hàng ngàn đời, đặc biệt đối với các nƣớc Á Đông…Một ngƣời phụ nữ đƣợc đánh giá là giỏi giang hay thành công chƣa hẳn là họ có chức vụ 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cao mà chính là họ tạo lập xây dựng một gia đình hạnh phúc. Chính vì thế thời gian họ dành cho việc nhà sẽ nhiều hơn so với nam giới. Ngƣời lao động nữ rất đa năng, sáng tạo, khéo léo trong việc thực hiện công việc.
Điều này có thể nhận thấy rõ ở chỗ họ có thể vừa giải quyết các công việc mang tính học thuật, sử lý các công việc ở công ty một cách quyết đoán. Nhƣng ngay sau đó họ lại có thể đảm nhiệm các công việc nhà đòi hỏi tính khéo léo nhƣ: Nấu ăn, nội trợ, chăm sóc con cái, chăm sóc bố mẹ chồng… Có thể thấy hầu hết ngƣời lao động nữ thƣờng có sức khỏe yếu hơn so với nam giới. Điều này nói lên đƣợc khả năng phải chịu đựng áp lực của ngƣời lao động nữ là rất cao và tính nghiêm túc trong công việc của họ. Họ tham gia tất cả các công việc mà nam giới làm, mặt khác họ lại đảm nhiệm chính công việc nhà mà hầu nhƣ nam giới thƣờng không quan tâm.
Ngày nay, trong xã hội hiện đại, do áp lực của công việc và khả năng lao động đòi hỏi xã hội phải nhìn nhận vấn đề này một cách khách quan hơn để đảm bảo sức khỏe và khả năng công việc cho lao động nữ. Những đặc điểm của lao động nữ, đòi hỏi pháp luật phải có những quy định riêng giúp họ vừa thực hiện nghĩa vụ lao động, vừa đảm bảo chức năng làm mẹ và chăm sóc gia đình. Những vấn đề lý luận cơ bản về quyền của lao động nữ Trên cơ sở các quy định của luật pháp quốc tế về tôn trọng và bảo vệ quyền con ngƣời, pháp luật Việt Nam đã có nhiều quy định cụ thể về quyền con ngƣời, mà điển hình là các chính sách bảo đảm quyền lợi của lao động nữ. Ngƣời lao động nữ không chỉ đƣợc hƣởng các quyền cơ bản của công dân, mà còn đƣợc quy định riêng về quyền làm việc và quyền nghỉ ngơi và các ƣu tiên dành riêng cho họ.
Việc ban hành các chế độ, chính sách để đảm bảo quyền lợi cho ngƣời lao động nữ là phù hợp với hoàn cảnh thực tế của đất nƣớc. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tác giả tiến hành tìm hiểu và nghiên cứu Công ƣớc CEDAW của Liên Hợp Quốc về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ và từ đó nhận thấy, CEDAW là điều ƣớc về quyền con ngƣời duy nhất xác nhận và khẳng định quyền đƣợc hƣởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe bao gồm cả việc tiếp cận các phƣơng pháp kế hoạch hóa gia đình của phụ nữ. Với tiêu chí xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ là tạo điều kiện quan trọng để phụ nữ có cơ hội bình đẳng và phát triển đầy đủ, tham gia và hƣởng lợi từ các hoạt động, CEDAW là một trong những điều ƣớc quốc tế về quyền con ngƣời đƣợc phê chuẩn rộng rãi nhất, CEDAW ra đời đƣợc hơn 25 năm qua và đã nhận đƣợc sự hƣởng ứng của toàn thế giới, nó đã phản ánh những tiêu chuẩn mang tính quy phạm thích hợp với các quyền của phụ nữ. Và cũng trên cơ sở đó, tại Điều 26, Hiến pháp Việt Nam năm 2013 đã khẳng định: "Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt, Nhà nước có chính sách đảm bảo quyền và cơ hội bình đẳng giới”.
Luật bình đẳng giới ở Việt Nam đã đƣợc thực hiện tốt, song song với nó là vấn đề quy định về quyền con ngƣời.