Chương 1: Khái quát chung về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm Chương 2: Pháp luật hiện hành về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và hệ quả pháp lý Chương 3: Thực trạng áp dụng pháp luật và một số giải pháp về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG I. KHÁI QUÁT CHUNG PHÁP LUẬT VỀ SINH CON BẰNG KỸ THUẬT THỤ TINH TRONG ỐNG NGHIỆM 1.NHỮNG KHÁI NIỆM CHUNG 1.Khái niệm kỹ thuật hỗ trợ sinh sản Hỗ trợ sinh sản là một trong những tiến bộ kỳ diệu của y học trong 30 năm trở lại đây. Hỗ trợ sinh sản là một thuật ngữ nói chung bao gồm những kỹ thuật y học mới, đƣợc sử dụng trong điều trị vô sinh do nhiều nguyên nhân khác nhau. Trong y học, sự thụ tinh (fertilization) là quá trình kết hợp của tế bào tinh trùng ở con đực với tế bào trứng ở con cái trong cơ thể mẹ để tạo ra một tế bào mới gọi là hợp tử (zygote) và hợp tử sẽ phát triển thành cơ thể mới.
Điều kiện tự nhiên cần thiết để thụ thai là việc noãn trƣởng thành gặp tinh trùng tạo ra phôi, phôi làm tổ tại niêm mạc tử cung. Bình thƣờng, sự thụ tinh xảy ra ở 1/3 ngoài vòi trứng và di chuyến vào buồng tử cung sau 7 ngày và làm tổ trong buồng tử cung. Để có sự thụ thai bình thƣờng, ở nam giớiphải sản xuất đủ số lƣợng tinh trùng bình thƣờng (100 tới 120 triệu con/ml), trƣởng thành, và di động tốt. Ở nữ giới phải đáp ứng đủ các điều kiện nhƣ: chất nhầy cố tử cung phải thích hợp với sự sống của tinh trùng, bộ phận sinh dục nữ cho phép tinh trùng tiến lên vòi trứng, đồng thời loa vòi trứng phải bắt đƣợc noãn, noãn phát triến và trƣởng thành, buồng tử cung và niêm mạc tử cung đủ điều kiện để tiếp nhận phôi làm tổ và phát triển.
Tuy nhiên, vì một nguyên nhân nào đó, họ không thể mang thai một cách tự nhiên, hay còn gọi là cặp vợ chồng vô sinh, thì sẽ phải cần tới kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Đồng thời, kỹ thuật hỗ trợ sinh sản còn áp dụng cho cả đối tƣợng là phụ nữ đơn thân và phụ nữ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Để tiếp cận với các khái niệm nhƣ kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, kỹ thuật thụ tinh nhân tạo và đặc biệt là kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, trƣớc hết cần tìm hiểu các khái niệm cơ bản có liên quan nhƣ noãn, tinh trùng, phôi… 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Về khái niệm noãn, Nghị định số 10/2015/NĐ-CP đã định nghĩa nhƣ sau: “Noãn là giao tử của nữ” [6, khoản 3 Điều 2]. So với khái niệm noãn trong Nghị định 12/2000/NĐ-CP về sinh con theo phƣơng pháp khoa học trƣớc đây: “Noãn là tế bào trứng”[4, khoản 5 Điều 3], ta thấy khái niệm mới có sự chuẩn xác hơn và có sự đồng nhất với khái niệm noãn trong thuật ngữ y học.
Về khái niệm tinh trùng, trƣớc đây trong nghị định 12/2000/NĐ-CP đã bộc lộ sự thiếu sót khi chƣa có một khái niệm cụ thể rõ ràng về “tinh trùng”, nhƣng lại có nhiều quy định liên quan trực tiếp tới khái niệm này nhƣ điều kiện chủ thể cho, nhận tinh trùng, bảo quản tinh trùng… Tới nay, tại khoản 4 Điều 2 Nghị định 10/2015/NĐ-CP, khái niệm tinh trùng lần đầu tiên đƣợc định nghĩa, cụ thể nhƣ sau: “Tinh trùng là giao tử của nam”. Có thể khẳng định, quy định mới đã bổ sung khái niệm này là cần thiết và hợp lý. Ta thấy quy định này tƣơng tự nhƣ định nghĩa trong Luật Hỗ trợ sinh sản ngƣời của Canada 2004. Tuy nhiên việc quy định mới của luật lại bổ sung thêm khái niệm “giao tử” mà chƣa định nghĩa.
Giao tử trong thuật ngữ y học là: “Tế bào sinh dục có chứa bộ nhiễm sắc thể đơn bội (n) được hình thành từ quá trình giảm phân của tế bào sinh giao tử (2n) có khả năng thụ tinh tạo ra hợp tử”. Giao tử có hai loại là giao tử đực và giao tử cái. Trong luật của nhiều quốc gia, nếu có sử dụng nhiều từ ngữ chuyên môn thuộc lĩnh vực khác, sẽ quy định thêm là “việc định nghĩa các khái niệm khác dựa theo từ điển chuyên ngành”, tuy nhiên thiết nghĩ trong luật này chỉ sử dụng một số lƣợng từ giới hạn có liên quan trực tiếp tới các quy phạm pháp luật điều chỉnh, nên cần định nghĩa khái niệm “giao tử” trực tiếp trong luật là điều cần thiết. Về khái niệm phôi, Nghị định 10/2015/NĐ-CP định nghĩa: “Phôi là sản phẩm kết hợp giữa noãn và tinh trùng” [6, khoản 3 Điều 2].
Quy định này khá tƣơng đồng và không có sự khác biệt với khái niệm về “phôi” trong luật cũ: “Phôi là sản phẩm kết hợp giữa noãn và tinh trùng” (khoản 6 Điều 3 Nghị định 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Song nếu quy định nhƣ vậy, ta sẽ bị nhầm lẫn giữa hai khái niệm “phôi” và “thai nhi”. Theo y học, “phôi” là sự kết hợp giữa noãn và tinh trùng trong 56 ngày đầu phát triển sau khi thụ tinh. "Thai nhi" là sự kết hợp giữa noãn và tinh trùng từ ngày thứ 57 sau khi thụ tinh cho tới khi sinh hoặc khi xảy thai.
Khái niệm về thai cũng đã đƣợc định nghĩa trong thông tƣ số 12/2012/TT-BYT do Bộ trƣởng Bộ y tế ban hành ngày 15 tháng 07 năm 2012 về quy trình kỹ thuật của thụ tinh nhân tạo và thụ tinh trong ống nghiệm, cụ thể: “Thai là sản phẩm của quá trình thụ tinh được tính bắt đầu từ tuần thứ 09 sau thụ tinh cho đến khi sinh hoặc khi sảy thai”[4, khoản 1 Điều 2]. Do đó, đề xuất định nghĩa lại khái niệm về phôi, cụ thể với quy định cũ:"Phôi là sản phẩm kết hợp giữa noãn và tinh trùng",tác giảđề xuất bổ sung: "Phôi là sản phẩm kết hợp giữa noãn và tinh trùng trong 56 ngày đầu tiên kể từ khi được thụ tinh". Bên cạnh đó, tác giả cũng đề xuất bổ sung một số khái niệm chƣa đƣợc định nghĩa song cũng rất cần thiết nhƣ sau: Khái niệm “Ngƣời hiến tặng”: Trong Nghị định 10/2015/NĐ-CP cũng nhƣ các văn bản pháp luật có liên quan tới kỹ thuật TTTON trƣớc đây, hoàn toàn chƣa định nghĩa khái niệm về ngƣời hiến tặng. Khái niệm “ngƣời hiến tặng” trong pháp luật nhiều nƣớc nhƣ Đạo luật Hỗ trợ sinh sản ngƣời của Canada 2004 hay Luật Thụ tinh và Phôi học ngƣời 2008 của Anh đều có quy định khái niệm người hiến tặng hay còn gọi là nhà tài trợ(donneur – nhà tài trợ).
“Ngƣời hiến tặng” là những cá nhân cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi dù có đƣợc sử dụng trong kỹ thuật hỗ trợ sinh sản hay không [33], [38]. Khái niệm "Vật liệu sinh sản của ngƣời" có nghĩa là một tinh trùng, noãn, tế bào của ngƣời khác hoặc một gen của con ngƣời… Y học phát triển đã chứng minh đƣợc con ngƣời có thể sinh sản không chỉ bằng tinh trùng, noãn, phôi mà có 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thể bằng cả các chuỗi gen hoặc sinh sản qua tế bào gốc [26]. Thực tế, khi các nghiên cứu khoa học kỹ thuật ngày một phát triển, nếu đứa trẻ sinh ra không phải từ tinh trùng, noãn mà bằng các vật liệu sinh sản khác nhƣ gen, tế bào gốc, tủy xƣơng… thì có thuộc phạm vi điều chỉnh của luật hay không, đó là việc pháp luật phải luôn dự liệu đƣợc các sự kiện pháp lý có thể phát sinh trong tƣơng lai. Do đó, đề xuất định nghĩa khái niệm “vật liệu sinh sản của ngƣời” tạo nền móng cơ sở pháp lý cho nhiều quy định sau này.
Trở lại với các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng cách ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sinh sản ở ngƣời, trên thế giới đã phổ biến một số kỹ thuật hỗ trợ sinh sản nhƣ thụ tinh nhân tạo (Intra-Uterine Insemination); thụ tinh trong ống nghiệm (In Vitro Fertilization - IVF); bảo tồn phôi thai bằng kỹ thuật trữ lạnh (cryopreservation of embryo – CFE); ghép phôi thai từ ống dẫn trứng này sang ống dẫn trứng khác (gamete interfallopian transfer – GIFT); hay phối hợp tinh trùng của hai ngƣời ở bên trong ống dẫn trứng (zygote intrafallopian transfer – ZIFT). Kỹ thuật hỗ trợ sinh sản lần đầu tiên đƣợc ghi nhận tại khoản 1, Điều 3 Nghị định 12/2003/NĐ-CP của Chính phủ về sinh con theo phƣơng pháp khoa học: “Sinh con theo phương pháp khoa học là việc sinh con được thực hiện bằng các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản như thụ tinh nhân tạo, thụ tinh trong ống nghiệm”. Tới khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 ra đời, thì tại khoản 21 Điều 3 đã một lần nữa khẳng định: “Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sảnlà việc sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm”. Có thể thấy rằng, pháp luật nƣớc ta đã thể hiện rõ quan điểm chỉ công nhận hai kỹ thuật thụ tinh nhân tạo và thụ tinh trong ống nghiệm, không thừa nhận kỹ thuật sinh sản vô tính.
Tại điểm g khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định nghiêm cấm các hành vi: “g. Thực hiệnsinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, mang thai hộ vì mục đích thương mại, sinh 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sản vô tính”. Sinh sản vô tính là vấn đề mang tính toàn cầu, khi pháp luật nhiều nƣớc cấm sinh sản vô tính ngƣời. Ngƣời ta cho rằng, việc sinh sản vô tính ở ngƣời có thể đặt xã hội trƣớc những thảm hoạ khôn lƣờng nhƣ việc xác định cha, mẹ con cho đứa trẻ đƣợc sinh sản bằng hình thức sinh sản vô tính, cũng nhƣ nhiều hệ lụy khác.
Kỹ thuật thụ tinh nhân tạo(Intra-Uterine Insemination hay còn gọi tắt là IUI)là phƣơng pháp dùng một ống thông nhỏ, đƣa một số lƣợng tinh trùng đã đƣợc lọc rửa, chọn lọc qua cổ tử cung và bơm trực tiếp vào buồng tử cung, với nguyên tắc cơ bản là làm tăng số lƣợng tinh trùng di động đến đoạn xa vòi trứng, nơi mà tinh trùng và trứng gặp nhau và có thể thụ thai. Đây là kỹ thuật tƣơng đối đơn giản, chi phí thấp đƣợc áp dụng rộng rãi tại các trung tâm hỗ trợ sinh sản và các phòng khám tƣ nhân. Kỹ thuật thụ tinh nhân tạo Theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP thì: “Việc thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo được thực hiện theo quy định của Luật Khám bệnh, chữa bệnh, không thuộc phạm vi điều 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.