Chương 1 THÔNG TIN CHÍNH TRỊ NGOẠI GIAO BẰNG ẢNH BÁO CHÍ – NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN 1. Khái niệm ảnh báo chí Nhiếp ảnh ra đời từ năm 1839, đến giữa thế kỉ 19 (năm 1950) thì thế giới công nhận nhiếp ảnh là bộ môn nghệ thuật. Năm 1891 đánh dấu mốc quan trọng cho sự ra đời của nhiếp ảnh báo chí. Có nhiều quan niệm khác nhau về ảnh báo chí.S Nguyễn Tiến Mão trong cuốn “Cơ sở lý luận ảnh báo chí” cũng đã chỉ ra rất nhiều quan niệm xung quanh vấn đề này.
Có nhiều người cho rằng, ảnh báo chí trước hết phải là ảnh thời sự được sử dụng trên báo chí, còn tất cả các loại ảnh khác dù được đăng báo nhưng không mang tính chất thời sự thì không thể gọi là ảnh báo chí. Bởi theo họ, bản chất của báo chí là thông tin những vấn đề mang tính chất thời sự. Ngoài ra, trên báo chí vì nhiều mục đích khác nhau, người ta có thể sử dụng những hình ảnh của nhiếp ảnh để làm tăng vẻ đẹp hoặc tạo thêm sự hấp dẫn, phong phú cho trang báo, số báo. Nó cũng giống như trên báo in tranh của họa sỹ, in thơ, in nhạc [31, tr28].
Khác với ý kiến trên, có nhiều người lại cho rằng ảnh báo chí là tất cả những hình ảnh phản ánh những sự kiện thời sự, vấn đề thời sự được mọi người quan tâm, không nhất thiết phải sử dụng trên mặt báo, trên mạng. Vì họ cho rằng trong thời kỳ bùng nổ thông tin như hiện nay, nhu cầu về đời sống tinh thần của mỗi thành viên trong xã hội ngày càng phát triển. Trong thực tiễn phong phú và đa dạng ấy, làm sao báo chí có thể đưa hết thảy các hình ảnh phản ánh về sự kiện, sự việc lên mặt báo. Vì thế sẽ không công bằng nếu không chấp nhận những ảnh đó là ảnh báo chí.
Quan niệm thứ ba lại có xu hướng đơn giản hóa, tầm thường hóa ảnh báo chí. Những người tán đồng xu hướng này chỉ ra rằng tất cả những ảnh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 đăng trên báo bất luận nội dung, phương thức thể hiện cũng như đề tài phản ánh nào đều được xem là ảnh báo chí. Nói cách khác, nó là sự hiện thân của mọi loại hình nhiếp ảnh, miễn là những ảnh đó được báo chí sử dụng. Quan niệm thứ tư xem xét vấn đề có phần hợp lý hơn và khoa học hơn.
Bởi xét về mặt phạm trù, trong nghệ thuật nhiếp ảnh hiện đại, có nhiều loại hình nhiếp ảnh cụ thể - tùy theo cách gọi của mỗi quốc gia. Chẳng hạn như ảnh sáng tác, ảnh thông tin báo chí, ảnh nghiên cứu khoa học, ảnh sinh hoạt, ảnh dịch vụ lưu niệm. Mỗi loại hình nhiếp ảnh đó lại có một chức năng, mục đích riêng. Vì vậy các tác giả đấu tranh cho quan niệm này đều lấy điểm xuất phát chính để xem xét là tính mục đích, là chức năng, nhiệm vụ chủ yếu cũng như khả năng xã hội hóa của bức ảnh.
Ở một khía cạnh khác, để nói một cách khái quát về ảnh báo chí, nhiều người đặt ảnh báo chí trong mối tương quan với ảnh nghệ thuật. Nhìn chung, đây là vấn đề lý luận phức tạp, ngay trong giới chuyên môn còn nhiều ý kiến chưa đồng nhất. Bàn về khái niệm ảnh báo chí, nhà lý luận Bozban Todorov, Giáo sư trường Đại học Báo chí Sofia Bungari đã viết: “Chỉ đến khi phương pháp in Autotype làm cho việc phát hành rộng rãi, trở thành việc có thể thực hiện được với quần chúng tiêu thụ. Hơn nữa công việc ấn loát và phát hành đó làm ảnh hưởng đến chính bản chất của ảnh báo chí, trở thành người liên lạc trung gian giữa nó với công chúng.
Vì vậy, hai yếu tố, một bên là ảnh với đặc điểm và các tính chất của nó, với một bên là khả năng in ảnh đó thành nhiều bản và phát hành rộng rãi, quy định lẫn nhau. Riêng một yếu tố, bất luận là yếu tố nào đều không thể đáp ứng đủ nội dung của khái niệm ảnh báo chí” [31,tr38]. Ở một góc độ khác, Kalinski – nhà lý luận phê bình, tiến sỹ Nghệ thuật học người Nga cũng nhấn mạnh: “Cái mà các nhà nhiếp ảnh đầu tiên không có được đó là khả năng thể hiện của báo chí, vì phương án in polygraphy lúc bấy giờ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 chưa phải là cách sử dụng thích hợp các tác phẩm của họ trên báo chí. Vì vậy theo giáo sư Bozban Todorov, chúng ta phải đi tìm bản chất xã hội của ảnh báo chí không phải trong những tác phẩm đơn nhất – dù chúng vĩ đại đến đâu đi nữa, cũng không phải ở những phóng sự ảnh chụp ra để trưng bày trong các phòng triển lãm mà là ở những tác phẩm phát hành rộng rãi trong quần chúng, phục vụ sự tiêu thụ của quần chúng” [31,tr38].
Theo các nhà nghiên cứu lý luận nhiếp ảnh thuộc tổ chức Ảnh báo chí thế giới, Liên đoàn nghệ thuật nhiếp ảnh quốc tế FIAP, Hội Nhiếp ảnh Hoa Kỳ PSA: “Ảnh báo chí là những tác phẩm gồm các ảnh đơn hoặc bộ ảnh có tính năng kể chuyện. Có nghĩa là có tính truyền tải thông tin sinh động, thuộc loại các hình ảnh được đăng tải hằng ngày trên báo chí truyền thông đại chúng, bao gồm những đề tài biểu hiện sự chú ý quan tâm của con người, những tư liệu thời sự hoặc những biến cố, sự kiện đột xuất bất ngờ (những bức ảnh dàn dựng hay dùng thủ thuật phòng tối hoặc vi tính để thay đổi thực trạng đều bị loại). Giá trị báo chí, truyển tải thông tin sẽ được ưu tiên đánh giá trước tính nghệ thuật của bức ảnh” [4, tr57]. Nhiều tác giả khác cũng nói đến những bức ảnh được in trên báo trước những năm 1890, nó cũng mang một số đặc điểm hình thức của phóng sự, song nghiêm túc mà nói, những bức ảnh ấy không thể được coi là những mẫu vật của ảnh báo chí đúng với tên gọi của nó, vì thiếu những đặc điểm cơ bản như tính chân thật, giá trị tài liệu và tính xác thực.
Những đặc điểm chủ yếu đó của ảnh báo chí lúc bấy giờ thật khó mà có được. Vì thế nên mãi đến cuối thế kỹ XIX mới xuất hiện trên báo những bức ảnh báo chí thực sự. Trong cuốn Cơ sở lý luận báo chí của tác giả Nguyễn Tiến Mão, giảng viên Khoa Báo chí - Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã đưa ra một TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 khái niệm tương đối hợp lý hơn cả về ảnh báo chí. Cụ thể, tác giả cho rằng: “Ảnh báo chí là một trong những hình ảnh thông tin của báo chí, thông qua việc phản ánh các hoạt động thực tiễn của đời sống xã hội, bằng những hình ảnh cụ thể, chân thực và sinh động, nhằm mang lại cho người xem một lượng thông tin, một giá trị tư tưởng và thẩm mỹ nhất định” [30,tr39].
Từ những quan niệm trên rút ra rằng, ảnh báo chí là ảnh đơn hoặc ảnh bộ, có khả năng truyền tải thông tin sinh động, trực diện bằng ngôn ngữ hình ảnh với sự hỗ trợ của ngôn ngữ văn tự thông qua chú thích. Khái niêm chính trị, ngoại giao 1. Khái niệm chính trị Một quan điểm khá phổ biến trên thế giới cho rằng chính trị thuộc lĩnh vực “quyền lực” (power). Karl Marx (1818-1883) là một trong những đại diện tiêu biểu cho quan điểm này.
Theo Marx, chính trị liên quan đến quyền lực và vấn đề là ở chỗ quyền lực không được phân phối đồng đều giữa các tầng lớp xã hội khác nhau. Chính sự phân phối không bình đẳng này đã gây nên xung đột và đấu tranh giai cấp. Theo Marx, chính trị là một quá trình mà qua đó các giai cấp có xung đột về quyền lợi đấu tranh để giành lấy, nắm giữ hoặc gây ảnh hưởng quyền lực nhà nước. Ở phương Tây, quan hệ giai cấp và xung đột giai cấp là đề tài nghiên cứu trọng tâm của nhiều nhà nghiên cứu theo học thuyết mác-xít.
Đối với Marx, chính trị là xấu xa, không tốt đẹp. Để có được cuộc sống tốt đẹp hơn, chúng ta phải “tiến tới thủ tiêu tất cả mọi giai cấp và tiến tới một xã hội không giai cấp”. tức là phải loại bỏ chính trị ra khỏi đời sống của con người. Vì chính trị là biểu hiện của xung đột giai cấp, nên nếu không còn giai cấp nữa thì cũng sẽ không còn nhà nước và chính trị cũng sẽ biến mất.
Nói một cách khác, học thuyết của Marx chủ trương xây dựng một xã hội không chính trị. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 Một quan điểm khác về chính trị, đồng ý với Marx ở một điểm, cũng là của một học giả người Đức tên là Max Weber, khi cũng cho rằng chính trị thuộc lĩnh vực “quyền lưc” (power) và “nhà nước” (state). Tuy nhiên, điểm khác biệt giữa họ là ở chỗ, Max Weber không cho rằng chính trị có thể được loại bỏ ra khỏi đời sống con người. Chính trị và nhà nước chắc chắn không phải là điều hoàn hảo nhưng người ta vẫn cần đến chúng.
Theo quan điểm của Weber, chính trị là quá trình để giành lấy quyền lực và ảnh hưởng đến việc phân phối quyền lực giữa các thành phần trong một quốc gia hoặc giữa các quốc gia. Xung đột và đấu tranh giai cấp chỉ là một phần của quá trình này. Quan điểm thứ ba có liên quan chặt chẽ đến học thuyết của Weber là của học giả người Canada, nhưng sống và làm việc tại Mỹ, tên là David Easton (1917) khi cho rằng chính trị là sự phân phối có thẩm quyền các giá trị. Khái niệm này được sử dụng khá phổ biến ở Mỹ và các nước phương Tây.
Nó tạo ra khuynh hướng nghiên cứu chính trị tập trung vào nhà nước, đặc biệt là vai trò, trách nhiệm và hoạt động của chính phủ, các chính đảng, các cơ quan nhà nước như bộ máy hành chính, quân đội, cảnh sát và các cá nhân hoạt động trong bộ máy chính trị đó Quan điểm thứ tư về chính trị cũng nhấn mạnh vào việc nghiên cứu chính phủ, nhưng không phải là chính phủ dưới bất cứ dạng nào. Đây là quan điểm của học giả Bernard Crick (1929-2008) người Anh, người đã sử dụng và phát triển quan điểm của Aristotle (384-322 TCN) về chính trị từ thời Hy Lạp cổ đại, khi cho rằng chính trị là sự dung hòa các đòi hỏi chính đáng về phân phối hàng hóa và dịch vụ.