Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ PHÁP LUẬT VÀ LUẬT TỤC 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT VÀ LUẬT TỤC 1. Khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò của pháp luật 1. Khái niệm Vào giai đoạn cuối của xã hội nguyên thủy, do sự phát triển của lực lượng sản xuất đã lần lượt đưa đến ba lần phân công lao động xã hội lớn, chế độ tư hữu được hình thành và cùng với nó là sự phân chia xã hội thành các giai cấp đối lập nhau về quyền lợi.
Các tập quan, quy tắc xã hội nguyên thủy vẫn còn tồn tại song rất nhiều trong số đó đã không còn đủ sức điều chỉnh các quan hệ xã hội trong giai đoạn xuất hiện những điều kiện mới này. Trước tình hình đó, xuất hiện nhu cầu bức xúc là phải hình thành một hệ thống quy tắc xử sự mới thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị. Pháp luật ra đời chính là để đáp ứng nhu cầu đó. Tuy nhiên, pháp luật ra đời không chỉ thuần túy từ nhu cầu giai trị của nhà nước, không chỉ là công cụ bảo vệ giai cấp thống trị; pháp luật xuất hiện còn để đáp ứng nhu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội của con người, củng cố, xác lập trật tự xã hội, thiếu trật tự đó, không một cộng đồng, một xã hội nào có thể tồn tại được.
Pháp luật là một hiện tượng xã hội khách quan, đặc biệt quan trọng nhưng cũng vô cùng phức tạp; chính vì vậy có không ít những quan niệm, nhận thức khác nhau về pháp luật. Trên quan điểm truyền thống, căn bản nhất có thể nêu khái niệm pháp luật như sau: Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí nhà nước của giai 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cấp thống trị trên cơ sở ghi nhận các nhu cầu về lợi ích của toàn xã hội, được đảm bảo thực hiện bằng nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội với mục đích trật tự và ổn định xã hội vì sự phát triển bền vững của xã hội [17]. Trong lý luận pháp lý hiện đại còn có nhiều đề xuất khác nhau về khái niệm pháp luật theo hướng mở rộng và phù hợp với tư duy pháp lý quốc tế hơn. Mỗi cách tiếp cận pháp luật đều có tính hợp lý nhất định, nhưng dù có được tiếp cận dưới góc độ nào, thì pháp luật vẫn là phương tiện để xác định, thiết lập trật tự xã hội có hiệu lực bắt buộc và được đảm bảo, kiểm soát, bảo vệ bởi quyền lực nhà nước.
Điều cốt lõi nhất trong quan niệm về pháp luật đó chính là hệ thống các quy phạm pháp luật do nhà nước xây dựng, ban hành. Đặc điểm Từ khái niệm trên, chúng ta có thể nhận biết pháp luật qua những dấu hiệu, đặc điểm riêng có của pháp luật, là tiêu chí để phân biệt pháp luật với các hiện tượng xã hội khác. Thứ nhất, pháp luật có tình quy phạm phổ biến, bắt buộc chung. Pháp luật trước hết được thể hiện dưới dạng các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội trong các lĩnh vực đời sống xã hội.
Quy phạm pháp luật là quy tắc hành vi, có giá trị như những khuôn mẫu xử sự, hướng dẫn, kiểm tra, đánh giá hành vi của các cá nhân, các quá trình xã hội. Không chỉ mình pháp luật có thuộc tính quy phạm, luật tục và các loại công cụ điều chỉnh xã hội khác cũng có tính quy phạm. Nhưng nếu tính quy phạm của luật tục chỉ có giá trị áp dụng bắt buộc trong từng địa phương, với phạm vi không gian nhỏ hẹp đối với cộng đồng người trong địa phương đó; thì tính quy phạm của pháp luật có đặc trưng riêng là tính phổ biến, bắt buộc chung đối với mọi cá nhân, mọi tổ chức trong xã hội. Các quy phạm pháp luật được áp dụng nhiều lần trong không gian và thời gian.
Việc áp dụng những quy phạm này chỉ bị đình chỉ khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền hủy bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc thời hạn đã hết. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thuộc tính trên của pháp luật xuất phát từ quyền lực nhà nước, nhà nước là người đại diện chính thức cho toàn xã hội. Mọi cá nhân, tổ chức sống trên lãnh thổ của nhà nước đều phải tuân thủ pháp luật. Thứ hai, pháp luật có tính xác định chặt chẽ về hình thức: Nếu như luật tục được thể hiện dưới dạng văn vần, truyền miệng từ đời này qua đời khác, ngôn ngữ được sử dụng có thể có những hình tượng nghệ thuật, ví von, ẩn dụ thì pháp luật được thể hiện ở dạng thành văn.
Các quy phạm pháp luật được thể hiện trong văn bản pháp luật với những tên gọi, cách thức ban hành và giá trị pháp lý khác nhau nhất định. Ngôn ngữ của pháp luật trong các quy phạm pháp luật phải ngắn gọn, rõ ràng, trực tiếp, mang tính phổ thông và dễ hiểu. So với nhiều loại quy phạm xã hội khác, pháp luật có tính chính xác cao, được thể hiện ở các quy định của pháp luật về các quyền, nghĩa vụ pháp lý và các chế tài pháp luật. Tính chính xác cao của pháp luật cho phép các chủ thể hiểu rõ những gì được phép làm, những gì phải làm và những gì bị cấm và trên cơ sở đó, các chủ thể có thể lựa chọn hành động, lựa chọn cách thức xử sự, kể cả dự liệu được những biện pháp xử lý khi có hành vi không đúng với yêu cầu của pháp luật.
Thứ ba, pháp luật được đảm bảo thực hiện bằng nhà nước. Pháp luật xuất phát từ nhà nước, do nhà nước trực tiếp xây dựng, ban hành hoặc thừa nhận nên pháp luật được nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các công cụ, biện pháp của nhà nước. Các biện pháp mà nhà nước sử dụng để đảm bảo thực hiện các quy phạm pháp luật rất đa dạng, bao gồm các biện pháp tổ chức cưỡng chế, thuyết phục, giáo dục… Các loại quy phạm xã hội khác như luật tục cũng được đảm bảo thực hiện bằng những biện pháp, cách thức nhất định như: sự tự giác thực hiện của cá nhân, sự lên án của dư luận trong cộng đồng xã hội, sự day dứt của lương tâm… nhưng không có sự đảm bảo thực hiện của nhà nước. Trên đây là ba đặc điểm cơ bản, tiêu biểu của pháp luật.
Tuy vậy, nếu xét rộng hơn thì còn phải kể đến một số thuộc tính khác của pháp luật như 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tính hệ thống, tính ổn định, tính dự báo… Khi nghiêm cứu đặc điểm của pháp luật cần có hướng nhìn một cách tổng thể để phân biệt rõ các quy phạm pháp luật với các quy phạm xã hội khác. Vị trí, vai trò của pháp luật Pháp luật ra đời như một tất yếu khách quan, là công cụ bảo vệ giai cấp thống trị, củng cố, xác lập trật tự xã hội. Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng nhà nước pháp quyền, hội nhập quốc tế hiện nay, pháp luật ngày càng thể hiện vai trò to lớn, là công cụ điều chỉnh hàng đầu các quan hệ xã hội. Pháp luật là công cụ hữu hiệu của nhà nước để quản lý xã hội, công cụ hướng dẫn và bảo đảm, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của cá nhân.
Như vậy, pháp luật có vị trí, vai trò to lớn trong đời sống xã hội. Nhưng cần nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò của pháp luật để phát huy hiệu quả điều chỉnh quan hệ xã hội của pháp luật là điều không đơn giản. Một trong những biểu hiện sai lệch là quá cường điệu hóa, tuyệt đối hóa vai trò của pháp luật, hoặc hạ thấp vai trò của pháp luật. Trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền, tuy có vai trò là công cụ điều chỉnh hàng đầu các quan hệ xã hội, song pháp luật chỉ có thể phát huy được sức mạnh của mình khi kết hợp với các công cụ điều chỉnh khác như: Luật tục, đạo đức… Nhận thức, vận dụng đúng đắn, khách quan về vai trò của pháp luật có tầm quan trọng đặc biệt trong quản lý xã hộ ở nước ta hiện nay.
Khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò của Luật tục 1. Khái niệm Luật tục của các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên với nhiều tên gọi khác nhau như Phạtkđi hay Biđuê của người Êđê, Phạtkđuôi của người MNông, Tơlơidjuat hay Tơlơiphian của người Gia Rai, Dâytơrônkđi của người Mạ… Luật tục thuộc phạm trù tập quán. Theo các quan điểm phổ biến hiện nay, luật tục được hiểu là những tập quán, phong tục tồn tại dưới dạng truyền 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khẩu và thành văn, là hệ thống những quy tắc xử sự điều chỉnh mọi mặt của đời sống cộng đồng. Điều khác biệt giữa luật tục với những tập quán, phong tục bình thường là luật tục không phải là tổng hợp mọi phong tục, tập quán mà chỉ bao gồm những phong tục, tập quán, quy lệ tác động đến những hành vi cá nhân trong cộng đồng hay giữa các cộng đồng với nhau như là những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc, gắn với những hình thức xử phạt và khen thưởng.
Luật tục và tập quán là những khuôn mẫu ứng xử được đặt ra trong một cộng đồng. Luật tục và tập quán có những điểm giống nhau nhưng cũng có điểm khác biệt. Tập quán và luật tục được hình thành từ những thói quen, khuôn mầu ứng xử được mọi người tuân theo. Tập quán được mọi người tự giác tuân theo, theo dư luận điều chỉnh, còn luật tục có tính cưỡng chế cao, gây áp lực bắt buộc mọi cá nhân tuân theo.
Luật tục thường bắt nguồn từ tập quán. Trong quá trình tuyển chọn một số tập quán có tính hướng đích cao, đáp ứng những nhu cầu cần thiết cho lợi ích của một cộng đồng sẽ trở thành luật tục. Luật tục vừa chứa đựng các quy định - các điều khoản về luật nội dung và luật tố tụng - luật hình thức theo ngôn ngữ pháp lý hiện đại. Trong quá trình tuyển chọn, một số tập quán được coi là cần thiết cho cộng đồng, ai cũng phải tuân theo nên nó trở thành luật tục.
Như vậy, luật tục chính là những hành động, những khuôn mẫu ứng xử đã tuân theo những chuẩn mực về luân lý, chính trị và thẩm mỹ của một cộng đồng. Đặc biệt luật tục có tính cưỡng chế cao, nó quy định rõ những điều được phép làm và những điều ngăn cấm. Có thể dùng khái niệm của PGS.