Chương 1 TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BIỂN VIỆT NAM, LUẬT BIỂN QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT BIỂN NƯỚC NGOÀI 1. TỔNG QUAN VỀ PHÁP LUẬT BIỂN VIỆT NAM 1. Điều kiện tự nhiên, vị trí địa kinh tế và địa chính trị của biển Việt Nam Việt Nam (tọa độ địa lý: Kinh tuyến: 102°8′ - 109°27′ Đông; Vĩ tuyến: 8°27′ - 23°23′ Bắc) nằm ở cực Đông Nam bán đảo Đông Dƣơng. Diện tích phần đất liền khoảng 331.
Việt Nam nằm bên bờ Biển Đông có vùng biển rộng trên 1 triệu km2 chiếm khoảng 30% diện tích Biển Đông, gấp hơn 3 lần diện tích đất liền. Bờ biển Việt Nam dài trên 3.260km ở cả 3 hƣớng: Đông, Nam và Tây Nam, trung bình khoảng 100km2 đất liền có 1km bờ biển (cao gấp 6 lần tỉ lệ này của thế giới), không một nơi nào trên đất nƣớc ta lại cách xa biển hơn 500km. Ven bờ có khoảng 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ các loại, chủ yếu nằm ở Vịnh Bắc Bộ, với diện tích khoảng l.700km2, trong đó, có 3 đảo có diện tích lớn hơn 100 km2, 23 đảo có diện tích lớn hơn 10km2, 82 đảo có diện tích lớn hơn l km2 và khoảng trên l.400 đảo chƣa có tên [34]. Về kinh tế, chính trị - xã hội, biển Việt Nam có tiềm năng tài nguyên phong phú, đặc biệt là dầu mỏ, khí đốt và các nguyên liệu chiến lƣợc khác, đảm bảo cho an ninh năng lƣợng quốc gia, cho đất nƣớc tự chủ hơn trong phát triển kinh tế trong bối cảnh hiện nay.
Cùng với đất liền, vùng biển nƣớc ta nằm ở Biển Đông, một khu vực giàu tài nguyên thiên nhiên, một thị trƣờng có sức mua khá lớn, một vùng kinh tế nhiều thập kỷ phát triển năng động. Vùng biển và ven biển Việt Nam nằm án ngữ trên các tuyến hàng hải và hàng không huyết 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mạch thông thƣơng giữa Ấn Độ Dƣơng và Thái Bình Dƣơng, giữa châu Âu, Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản và các nƣớc trong khu vực. Biển Đông đóng vai trò là chiếc ''cầu nối'' cực kỳ quan trọng, là điều kiện rất thuận lợi để giao lƣu kinh tế, hội nhập và hợp tác giữa nƣớc ta với các nƣớc trên thế giới, đặc biệt là với các nƣớc trong khu vực châu Á - Thái Bình Dƣơng, khu vực phát triển kinh tế năng động và có một số trung tâm kinh tế lớn của thế giới. Ngoài ra, nƣớc ta còn có rất nhiều lợi thế về du lịch biển.
Với nhiều trung tâm du lịch biển quan trọng có vị trí địa lý thuận lợi, nằm trên tuyến du lịch quốc tế Đông Nam Á nhƣ Vũng Tàu, Nha Trang, Đà Nẵng, Huế, Hải Phòng, Quảng Ninh. có đủ các điều kiện và khả năng để trở thành những tụ điểm về du lịch biển. Về quốc phòng - an ninh, biển nƣớc ta là một không gian chiến lƣợc đặc biệt quan trọng đối với quốc phòng - an ninh của đất nƣớc. Với một vùng biển rộng lớn, bờ biển dài, địa hình bờ biển quanh co, khúc khuỷu, có nhiều dãy núi chạy lan ra biển, chiều ngang đất liền có nơi chỉ rộng khoảng 50km (tỉnh Quảng Bình), nên việc phòng thủ từ hƣớng biển luôn mang tính chiến lƣợc.
Hệ thống quần đảo và đảo trên vùng biển nƣớc ta cùng với dải đất liền ven biển thuận lợi cho việc xây dựng các căn cứ quân sự, điểm tựa, pháo đài, trạm gác tiền tiêu, hình thành tuyến phòng thủ nhiều tầng, nhiều lớp, với thế bố trí chiến lƣợc hợp thế trên bờ, dƣới nƣớc, tạo điều kiện thuận lợi để bảo vệ, kiểm soát và làm chủ vùng biển của nƣớc ta. Biển có ý nghĩa to lớn để nƣớc ta phát triển, mở cửa giao lƣu với quốc tế và ngày càng có vai trò lớn trong tƣơng lai. Biển, đảo là một bộ phận cấu thành phạm vi chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, cùng với đất liền tạo ra môi trƣờng sinh tồn và phát triển đời đời của dân tộc ta. Chính vì vậy, pháp luật điều chỉnh các khu vực và các hoạt động trên biển đã đƣợc ra đời, phát triển từ rất sớm và ngày càng đƣợc chú trọng hơn.
Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, những nguồn tài nguyên thiên nhiên trên cạn đang dần khan hiếm 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thì mối quan tâm của các quốc gia đƣợc dịch chuyển sang nguồn tài nguyên trên biển vốn vô cùng dồi dào. Bên cạnh đó, quá trình toàn cầu hoá đang diễn ra một cách mạnh mẽ kéo theo sự liên kết ngày càng gần gũi của các quốc gia đã làm cho các mâu thuẫn, bất đồng hình thành ngày càng nhiều và sâu sắc, điển hình là các tranh chấp ở Biển Đông của Việt Nam. Điều này làm cho hệ thống pháp luật biển Việt Nam có tầm quan trọng lớn hơn bao giờ hết. Khái niệm và quá trình hình thành, phát triển pháp luật biển Việt Nam 1.
Khái niệm pháp luật biển Việt Nam Luật biển là tổng hợp các nguyên tắc và quy phạm đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền ban hành hoặc thừa nhận dùng để điều chỉnh các quan hệ pháp luật phát sinh trong quá trình khai thác và sử dụng các vùng biển. Về mặt cấu trúc thì luật biển Việt Nam là một ngành luật độc lập thuộc hệ thống pháp luật Việt Nam, có đối tƣợng điều chỉnh là các quan hệ pháp luật phát sinh trong quá trình xác định các vùng biển cũng nhƣ quá trình khai thác và sử dụng biển. Quá trình hình thành và phát triển pháp luật biển Việt Nam Việt Nam là một quốc gia ven biển, biển gắn liền với đất nƣớc và con ngƣời Việt Nam trong tất cả quá trình hình thành và phát triển dân tộc. Chính vì tầm quan trọng to lớn của biển nên luật biển Việt Nam càng ngày càng đƣợc quan tâm hơn.
Sự hình thành và phát triển luật biển Việt Nam có thể chia thành các thời kỳ sau: * Pháp luật biển Việt Nam giai đoạn trước năm 1954 Giai đoạn trƣớc năm 1945 là thời kỳ các nhà nƣớc phong kiến vẫn còn thống trị ở Việt Nam. Trong thời kỳ này, pháp luật biển, đảo cũng đã đƣợc quan tâm một cách toàn diện. Các nhà nƣớc phong kiến đã xác định hải giới và chú trọng bảo vệ chủ quyền trên biển. Bên cạnh đó, việc khai thác, xác lập 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chủ quyền và quản lý lãnh thổ trên biển Đông cũng đƣợc cha ông ta tiến hành từ lâu đời.
Trong sách Đại Nam nhất thống chí đời Nguyễn đã viết: “Phía Đông có dải đảo cát nằm ngang (Hoàng Sa đảo) liền với biển xanh làm hào che, phía Tây khống chế vùng Sơn Man có luỹ đá dài chồng chất giữ cho vững vàng, phía Nam bên tỉnh Bình Định, có sƣờn núi Bến Đá làm mũi chặn ngang, phía Bắc tỉnh giáp tỉnh quảng Nam, có ghềnh sa có thể làm giới hạn”. Sau đó, thời kỳ Pháp xâm lƣợc Việt Nam đã cai quản toàn bộ vùng lãnh thổ, vùng biển, hải đảo; thực hiện và củng cố chủ quyền trên biển của Việt Nam. Thời kỳ này, Pháp áp dụng luật biển của chính quốc đối với thuộc địa để khai thác các nguồn lợi trên biển của Việt Nam. Pháp ban hành Nghị định này 09/12/1926 tuyên bố lãnh hải Việt Nam rộng 03 hải lý rồi sau đó mở rộng ra 10 hải lý trong Nghị định ngày 22/9/1936.
Đến năm 1948, chính quyền Pháp quy định lãnh hải của Việt Nam rộng 03 hải lý, vùng đánh cá rộng 20km và vùng tiếp giáp lãnh hải 20km tính từ ngấn nƣớc triều thấp nhất. Nhƣ vậy, cho đến thời điểm 1954, Việt Nam đã mở rộng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mình trên tất cả các vùng biển mà luật quốc tế về biển công nhận, trừ vùng thềm lục địa. * Pháp luật biển, đảo Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975 Trong giai đoạn này, do hoàn cảnh chiến tranh và đất nƣớc bị chia cắt, nhìn chung Việt Nam chƣa có đƣợc một khung pháp lý đầy đủ, phù hợp với xu hƣớng chung của luật biển quốc tế, do đó đã hạn chế một phần sự mở rộng ra hƣớng biển của Việt Nam. Hoạt động đáng chú ý nhất là ở miền Nam, chính quyền Sài Gòn tham dụ Hội nghị lần thứ nhất của Liên hợp quốc về luật biển tại Geneva và đã có những đóng góp nhất định trong việc xây dựng các khái niệm nghề cá và thềm lục địa.
Chính quyền Sài Gòn lúc này cũng duy trì lãnh hải rộng 03 hải lý theo Tuyên bố ngày 27/4/1965 về các biện pháp bảo vệ lãnh hải; vùng đánh cá đƣợc mở rộng đến 50 hải lý trong Tuyên bố ngày 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 01/4/1972; đặc biệt đã phân thềm lục địa của Việt Nam thành 33 lô theo Nghị định ngày 09/6/1971 và tiến hành đấu thầu một số lô cho các công ty dầu mỏ nƣớc ngoài khai thác, thăm dò. Bên cạnh đó, chính quyền Sài Gòn cũng trực tiếp quản lý và bảo vệ hai quần đảo Hoàng Sa và Trƣờng Sa của Việt Nam. * Pháp luật biển, đảo Việt Nam từ giai đoạn 1975 đến nay Từ năm 1977, sau khi thống nhất đất nƣớc và trở thành thành viên Liên Hợp quốc, Việt Nam bắt đầu tham gia Hội nghị lần thứ 3 của Liên hợp quốc về Luật biển. Việt Nam cũng là một trong 130 nƣớc bỏ phiếu thông qua và sau đó cùng 118 nƣớc khác ký Công ƣớc Luật biển 1982 vào tháng 12/1982 tại Montego Bay (Jamaica).
Ngày 23/6/1994 Quốc hội Việt Nam đã chính thức phê chuẩn và trở thành thành viên thứ 63 của Công ƣớc. Bên cạnh việc đƣợc hƣởng các quyền lợi, Việt Nam còn có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ cụ thể mà Công ƣớc này mang lại. Cụ thể, Việt Nam có quyền xác định các vùng biển và thềm lục địa theo Công ƣớc nhƣng đồng thời cũng có nghĩa vụ tiến hành phân định các vùng biển và thềm lục địa ở những khu vực chồng lấn với các nƣớc láng giềng. Ngay từ khi Công ƣớc Luật biển 1982 còn đang đƣợc thƣơng lƣợng, Chính phủ Việt Nam đã ra Tuyên bố ngày 12/5/1977 về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.
Phạm vi các vùng biển của Việt Nam theo Tuyên bố này hoàn toàn phù hợp với các quy định sau này của Công ƣớc Luật biển năm 1982.