phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Một số vấn đề lý luận chung về gia đình Chƣơng 2. Pháp luật điều chỉnh các quan hệ của gia đình Chƣơng 3. Thực tiễn thực hiện các quy định về gia đình và một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật điều chỉnh về gia đình 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIA ĐÌNH 1.
Khái niệm gia đình 1. Gia đình theo quan điểm triết học Triết học nghiên cứu gia đình trong quá trình phát triển của lịch sử và các hình thái kinh tế - xã hội. Theo quan điểm triết học, HN&GĐ không ngừng vận động và phát triển.Anghen thì quan hệ hôn nhân tƣơng ứng có với ba giai đoạn phát triển của nhân loại: Ở thời đại mông muội có chế độ quần hôn; ở thời đại dã man có chế độ hôn nhân cặp đôi; ở thời đại văn minh có chế độ một vợ một chồng [2; tr. Gia đình là một phạm trù lịch sử, các hình thái và chức năng của gia đình là do tính chất của quan hệ sản xuất, quan hệ xã hội cũng nhƣ trình độ phát triển văn hóa của xã hội quyết định.
Trong lịch sử của xã hội loài ngƣời đã trải qua bốn hình thái gia đình, đó là gia đình huyết tộc, gia đình pu-na-lu-an, gia đình cặp đôi, gia đình một vợ một chồng. Gia đình huyết tộc là hình thái gia đình đầu tiên trong lịch sử. Lúc này các quan hệ hôn nhân hình thành theo thế hệ: Trong phạm vi gia đình, tất cả ông và bà đều là vợ chồng với nhau; các con của ông bà tức là các ngƣời cha và các bà mẹ cũng là vợ chồng với nhau; đến lƣợt con cái của những ngƣời này tức là cháu của ông bà cũng hợp thành một nhóm vợ chồng thứ ba; đến lƣợt con cái của những ngƣời con ấy là chắt của ông bà lại hợp thành nhóm vợ chồng thứ tƣ. Nhƣ vậy, những ngƣời cùng thế hệ là vợ chồng của nhau, những ngƣời khác thế hệ không có quyền và không có nghĩa vụ vợ chồng với nhau.
Quan hệ hôn nhân đƣợc ngăn cấm lần đầu tiên theo hệ dọc giữa các thế hệ. Các nhóm hôn nhân đƣợc hình thành theo thế hệ và chỉ đƣợc phép quan hệ tính giao với nhau trong phạm vi nhóm đó. Vì 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cấm quan hệ tính giao theo hệ dọc trên cơ sở huyết thống trực hệ giữa các thế hệ với nhau, nên gia đình này đƣợc gọi là gia đình huyết tộc. Gia đình pu-na-lu-an: Khi xã hội phát triển đến một giai đoạn nhất định, một hay nhiều nhóm chị em gái trở thành vợ chung của cộng đồng những ngƣời đàn ông khác không cùng họ mẹ; còn những anh em trai cùng mẹ của họ lại trở thành chồng chung của cộng đồng và những chị gái khác.
Bằng cách này mà từ hình thái gia đình huyết tộc đã xuất hiện hình thái gia đình pu-na-lu-na. Theo hình thái gia đình pu-na-lu-an, một số chị em gái cùng mẹ hay xa hơn đều là vợ chung của một số ngƣời chồng, trừ những anh em trai cùng mẹ của những ngƣời chị em gái này. Ngƣợc lại, một số ngƣời anh em trai sẽ là ngƣời chồng chung của các chị em gái, trừ những chị em gái do cùng một mẹ đẻ ra. Lúc đó, những ngƣời này gọi nhau là “người bạn đường” hay “người cùng hội cùng thuyền”.
Một cách tƣơng tự, một số anh em trai cùng mẹ hoặc xa hơn, đều lấy chung một số vợ không phải là chị em gái của họ và những ngƣời vợ ấy đều gọi nhau là pu-na-lu-a. Đây là hình thức cổ điển của một kết cấu gia đình có đặc trƣng là: Chung chồng, chung vợ với nhau trong phạm vi nhất định, nhƣng phải loại trừ những anh em trai của các ngƣời vợ, đồng thời cũng loại trừ những chị em gái của những ngƣời chồng. Gia đình cặp đôi: Là một loại hình thức kết hôn từng cặp, lúc bấy giờ, trong số những ngƣời vợ của mình, ngƣời đàn ông có một vợ chính, và trong số nhiều ngƣời chồng khác, anh ta là ngƣời chồng chính của ngƣời đàn bà ấy. Do thị tộc ngày càng phát triển và những nhóm “anh em trai” và “chị em gái” không còn có thể lấy nhau đƣợc nữa ngày càng nhiều, càng mở rộng và phát triển hơn nữa thì tất cả những ngƣời bà con họ hàng cùng dòng máu đều không đƣợc lấy nhau.
Trong tình trạng cấm kết hôn ngày càng phức tạp thì chế độ quần hôn ngày càng không thể thực hiện đƣợc, chế độ ấy đang bị gia đình cặp đôi ngày càng lấn át và thay thế. Một ngƣời đàn ông sống với một ngƣời đàn bà với một sự gắn bó với nhau rất lỏng 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lẻo, mối liên hệ vợ chồng vẫn có thể bị bên này hay bên kia cắt đứt một cách dễ dàng và con cái lúc này cũng chỉ thuộc về ngƣời mẹ. Gia đình một vợ một chồng: Gia đình một vợ một chồng nảy sinh từ gia đình cặp đôi, nó đánh dấu cho buổi ban đầu của thời đại văn minh. Gia đình ấy dựa trên sự thống trị của ngƣời chồng, nhằm chủ đích là làm cho con cái sinh ra phải có cha đẻ rõ ràng không ai tranh cãi đƣợc và sự rõ ràng về dòng dõi đó là cần thiết, vì những đứa con đó sau này sẽ đƣợc thừa hƣởng tài sản của ngƣời cha với tƣ cách là ngƣời kế thừa trực tiếp.
Gia đình một vợ một chồng khác với gia đình cặp đôi ở chỗ là quan hệ vợ chồng chặt chẽ hơn nhiều, hai bên không còn có thể tùy ý bỏ nhau đƣợc nữa. Qua bốn hình thái gia đình trên ta thấy triết học nghiên cứu gia đình trong sự vận động và phát triển của nó theo các điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội. Các hình thái gia đình cũng vận động và phát triển theo quy luật tự nhiên và của sự vận động phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội. Gia đình theo quan điểm xã hội học Các ngành nghiên cứu về gia đình cố gắng đƣa ra khái niệm về gia đình nhƣ các nhà triết học, tâm lý học, giáo dục học, văn hóa… nhƣng chƣa có ngành nào nghiên cứu về gia đình nhiều nhƣ ngành xã hội học.
Tuy nhiên đến nay vẫn chƣa có một khái niệm thống nhất về gia đình. Tùy vào từng lĩnh vực nghiên cứu mà mỗi nhà khoa học lại có một khái niệm gia đình riêng phù hợp với lĩnh vực mà mình nghiên cứu. Có thể nói, chƣa có ngành nào lại đƣa ra nhiều khái niệm gia đình nhƣ ngành xã hội học. Trong tập bài giảng Xã hội học của trƣờng đại học Luật Hà Nội, nhóm tác giả đã nêu hai khái niệm về gia đình để phục vụ cho việc giảng dạy: 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Gia đình là một thiết chế xã hội, trong đó những người có quan hệ ruột thịt (hoặc đặc biệt cùng chung sống).
Gia đình là một phạm trù biến đổi mang tính lịch sử và phản ánh văn hóa của dân tộc và thời đại. Gia đình là trường học đầu tiên có mối quan hệ biện chứng với tổng thể xã hội [38; tr.335] Gia đình – đơn vị xã hội (nhóm xã hội nhỏ), là hình thức tổ chức xã hội quan trọng nhất của sinh hoạt cá nhân dựa trên hôn nhân và các quan hệ huyết thống, tức là quan hệ vợ chồng, giữa cha và mẹ, giữa anh chị em và người thân thuộc khác cùng chung sống và có kinh tế chung [38; tr.335] Môn Xã hội học đƣợc giảng dạy ở trƣờng Đại học Luật là môn học nhằm mục đích giúp ngƣời học hiểu biết hơn về xã hội nhằm nhanh chóng tiếp cận hiểu biết pháp luật từ đó thực hiện ba chức năng cơ bản là chức năng nhận thức, chức năng thực tiễn và chức năng tƣ tƣởng. Khái niệm gia đình đƣợc các tác giả đƣa ra cũng không nằm ngoài ba chức năng trên. Vì vậy, có thể thấy hai khái niệm trên chƣa phản ánh một cách đầy đủ về khái niệm gia đình.
Ngoài hai khái niệm trên thì còn có những khái niệm khác nhau của các tác giả xã hội học khác khi nghiên cứu về gia đình. Trong cuốn “Gia đình trong bối cảnh đổi mới”, gia đình đƣợc định nghĩa nhƣ sau: Gia đình là một nhóm người có quan hệ với nhau bởi hôn nhân, huyết thống, hoặc quan hệ nuôi dưỡng, có đặc trưng giới tính qua quan hệ hôn nhân, cùng chung sống, có chung ngân sách[39; tr114]. Do trong thực tiễn tồn tại nhiều loại mô hình gia đình nên việc nghiên cứu gia đình và giới trong thời kỳ đổi mới nhằm thực hiện quản lý xã hội của các nhà quản lý cũng chỉ nghiên cứu những gia đình mang tính chất tiêu chuẩn. Do vậy, khái niệm nêu trên cũng chƣa thực sự đầy đủ và bao quát hết mọi gia đình trong xã hội.
14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khi nghiên cứu xã hội học về “Một số lĩnh vực nghiên cứu của xã hội học”, nhóm tác giả là GS. Phạm Tất Long – TS. Lê Ngọc Hùng đã đƣa ra khái niệm về gia đình cho lĩnh vực mình nghiên cứu nhƣ sau: Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù,một nhóm xã hội nhỏ mà các thành viên của nó gắn bó với nhau bởi mối quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ con nuôi,bởi tính cộng đồng về sinh hoạt, trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng của các thành viên cũng như để thực hiện tính tất yếu của xã hội về tái sản xuất con người[15; tr310]. Khái niệm do nhóm tác giả đƣa cũng chƣa phản ánh đầy đủ về gia đình bởi hình thức gia đình rất đa dạng.
Khái niệm này khá tƣơng đồng với quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014. Mặc dù chƣa có một khái niệm chung về gia đình nhƣng các nhà xã hội học đều ghi nhận gia đình là một nhóm xã hội nhỏ, trong đó các thành viên có quan hệ quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hay quan hệ nuôi dƣỡng, cùng chung sống. Bởi tính đa dạng của gia đình mà làm cho bất cứ một khái niệm nào về gia đình cũng trở nên lỏng lẻo, điều này đã tạo nên nhiều tranh luận giữa các nhà khoa học, nó đã và đang thách thức các nhà xã hội học đƣa ra một khái niệm về gia đình. Xã hội học coi gia đình là một thể chế xã hội luôn vận động và phát triển.