Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về đương sự trong vụ án dân sự Trong chương này làm rõ khái niệm của đương sự trong tố tụng dân sự nội hàm của khái niệm. Đặc điểm của đương sự trong tố tụng dân sự, vai trò của đương sự và cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn của việc xác định thành phần, tư cách tố tụng của đương sự. Trong chương này cũng đã phân tích pháp luật của một số nước quy định về đương sự trong tố tụng dân sự Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về đương sự trong tố tụng dân sự Trong chương đã đưa ra các quy định về thành phần và tư cách của đương sự. Các quy định về năng lực chủ thể của đương sự.
Quy định về quyền, nghĩa vụ và 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com việc kế thừa quyền và nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự. Đánh giá những thành tựu và hạn chế của pháp luật Việt Nam trong những quy định này Chương 3: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về đương sự ở Tòa án tại tỉnh Lạng Sơn và một số kiến nghị. Trong chương này, tác giả tập trung phân tích quan điểm, phương hướng của Đảng và Nhà nước ta trong vấn đề hoàn thiện khuôn khổ pháp luật. Đã đưa ra những quy định của pháp luật và việc áp dụng giải quyết các vụ án dân sự.
Qua những vụ án cụ thể tại địa phương đề xuất một số khuyến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐƢƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐƢƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1. Khái niệm đƣơng sự trong tố tụng dân sự Đương sự theo pháp luật tố tụng dân sự thông thường là các chủ thể độc lập trong một hoặc nhiều quan hệ đang được xem xét, giải quyết trong vụ việc hoặc quan hệ phát sinh từ việc xem xét, giải quyết vụ việc đó.
Do đó, muốn xác định được đầy đủ đương sự trong vụ việc thì cần phải xác định được những mối quan hệ phải được giải quyết trong vụ việc đó và những mối quan hệ có liên quan đến việc giải quyết vụ việc. Một vụ việc mà có nhiều mối quan hệ đan xen của nhiều chủ thể thì vụ việc đó có thể có nhiều đương sự tham gia và ngược lại trong vụ việc đó chỉ phải giải quyết một mối quan hệ giữa hai chủ thể thì chỉ hai bên chủ thể đó được xác định là đương sự. Ngoài ra, đương sự trong tố tụng dân sự phải là những chủ thể có quyền, lợi ích liên quan trực tiếp với việc xem xét, giải quyết vụ việc đó. Vì vậy, để xác định được đầy đủ những ai là đương sự, trước hết cần xác định rõ bản chất của vụ việc mới có thể xác định được ai là chủ thể có quyền, lợi ích liên quan trực tiếp với việc giải quyết vụ việc đó.
Tùy thuộc vào từng vụ việc mà thành phần các chủ thể được xác định là đương sự sẽ khác nhau: có những vụ việc mà việc giải quyết vụ việc này có liên quan trực tiếp đến quyền lợi của nhiều chủ thể, tuy nhiên có vụ việc thì việc giải quyết chỉ liên quan trực tiếp đến quyền lợi của hai bên chủ thể. Thông thường đương sự có quyền, lợi ích được giải quyết ngay trong vụ việc đó. Tuy nhiên, đương sự cũng còn bao gồm cả những người mà quyền và lợi ích không được giải quyết ngay trong vụ việc nhưng kết quả giải quyết vụ việc này có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích của họ. Vì vậy, họ cũng phải được tham gia vào việc giải quyết vụ việc.
6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, có thể hiểu rằng, theo nghĩa rộng thì đương sự trong một vụ việc là cá nhân, pháp nhân hoặc các chủ thể khác tham gia vào quá trình giải quyết vụ việc vì có quyền, lợi ích liên quan đến việc giải quyết vụ việc. Theo quan niệm của các nhà luật học đương sự trong TTDS là gì ? Trong Từ điển Luật học được xuất bản năm 1999 thì “đương sự là người có quyền, nghĩa vụ được giải quyết trong một khiếu nại hoặc một vụ án”[38]. Ngoài ra, theo cuốn Từ điển Luật học của Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) thì đương sự được giải thích như sau: “Cá nhân, pháp nhân tham gia TTDS với tư cách là nguyên đơn hoặc bị đơn, hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Đương sự là một trong các nhóm người tham gia TTDS tại TAND trong các vụ kiện về dân sự, kinh doanh, thương mại, hôn nhân gia đình và lao động.
Những người tham gia TTDS đó bao gồm đương sự, người đại diện cho đương sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung, VKS, người làm chứng, người phiên dịch” [41]. Qua đó, có thể thấy các nhà luật học đều có một quan niệm chung, đương sự là những người tham gia vào quá trình giải quyết VADS vì có quyền, nghĩa vụ được giải quyết trong VADS, bao gồm bên nguyên đơn, bên bị đơn. Tuy nhiên, các nhà luật học chưa đưa ra một khái niệm toàn diện về đương sự trong TTDS. Vì vậy, để có thể xây dựng được khái niệm đương sự trong TTDS thì trước hết chúng ta cần phải làm rõ TTDS là gì ? Những chủ thể nào có thể được xác định là đương sự ? Theo từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh [11]: "tố tụng" là việc thưa kiện (procès), "tố tụng pháp lý" là việc pháp luật quy định những thủ tục về cách tố tụng (code deprocédure)" Sách Tiếng nói nôm na của Lê Gia [26], dẫn giải 30.000 từ tiếng Việt thường dùng có liên quan đến từ Hán Việt (NXB Văn Nghệ TP HCM, 1999) giải thích chi tiết hơn: "Tố tụng" là vạch tội và đưa ra cửa công để phân giải phải trái do chữ "tố" là vạch tội; chữ "tụng" là thưa kiện ở cửa công để xin phân phải trái".
Hiểu một cách đơn giản: "Tố tụng" là việc thưa kiện ở tòa án hay được hiểu là “việc kiện cáo trước toà án” [26]. Vì vậy, TTDS được hiểu là những việc kiện 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cáo nhau ra TA về các quan hệ dân sự và yêu cầu TA giải quyết. Tuy nhiên, về mặt pháp lý, khái niệm “tố tụng dân sự” cũng có nhiều cách hiểu khác nhau, tuỳ theo mô hình tố tụng và pháp luật của mỗi quốc gia thuộc mỗi hệ thống pháp luật cơ bản trên thế giới [11]. Trước khi có BLTTDS việc giải quyết các tranh chấp ở TA theo các thủ tục tố tụng khác nhau và được quy định trong các văn bản khác nhau.
Việc giải quyết các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình theo thủ tục giải quyết các VADS được quy định trong PLTTGQCVADS 1989 [14], giải quyết các tranh chấp kinh tế theo thủ tục giải quyết các VA kinh tế được quy định trong PLTTGQCVAKT 1994 [42], giải quyết các tranh chấp lao động theo thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động được quy định trong PLTTGQCTCLĐ 1996 [43]. Sở dĩ các loại tranh chấp này được giải quyết ở các thủ tục khác nhau vì trong hệ thống pháp luật Việt Nam thời kỳ này không phân chia hệ thống pháp luật thành hệ thống luật công và hệ thống luật tư như các nước theo hệ thống luật dân sự. Mỗi ngành luật được hiểu là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật. Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Kinh tế, Luật Lao động được xác định là các ngành luật độc lập và mỗi ngành luật này lại điều chỉnh một nhóm các quan hệ xã hội riêng biệt.
Luật Dân sự và các ngành luật khác như Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Kinh tế, Luật Lao động (các ngành luật nội dung) là các ngành luật có vị trí ngang nhau trong hệ thống pháp luật. Vì vậy, hệ thống luật tố tụng (luật hình thức) cũng có sự tách biệt để giải quyết các loại tranh chấp trong từng ngành luật nội dung và TTDS chỉ là thủ tục giải quyết các tranh chấp, yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, BLDS 2005 [8] ra đời đã đánh dấu một sự thay đổi rất lớn về vị trí của Luật Dân sự. Luật Dân sự được coi như là “luật gốc” trong hệ thống luật tư [11].
Các ngành luật thuộc hệ thống luật tư như Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Thương mại, Luật Lao động v. đã có sự thống nhất. Do vậy, TTDS, tố tụng kinh tế, tố tụng lao động đã có sự tương đồng. BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 [31] đã thống nhất các trình tự tố tụng để giải quyết các tranh chấp, yêu cầu thuộc lĩnh vực tư giống như pháp luật tố tụng của các nước trong hệ thống luật dân sự.
Như vậy, với quan niệm này, đương sự trong TTDS là người tham gia vào quá trình TA giải 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quyết các tranh chấp, yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động. Ngoài ra, pháp luật TTDS không chỉ điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong quá trình giải quyết VVDS mà còn điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong quá trình THADS. Tuy nhiên, trong giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chỉ đề cập đến đương sự trong quá trình TA giải quyết VVDS. Vì vậy, chúng tôi không bình luận và đánh giá về vấn đề này.
Việc phân loại các đối tượng được giải quyết theo thủ tục TTDS cũng có những quan niệm rất khác nhau và từ đó dẫn đến những quan niệm khác nhau về đương sự trong TTDS. Trước khi có BLTTDS, nhiều nhà khoa học pháp lý Việt Nam cho rằng đối tượng được giải quyết theo thủ tục TTDS cũng chỉ là các VADS, trong đó TA giải quyết các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình và cả các yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình [31]. Vì vậy, quan niệm thành phần đương sự trong VADS bao gồm: nguyên đơn, bị đơn, người dự sự (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập) [31]. Tại Điều 1 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 đã quy định đối tượng giải quyết theo thủ tục TTDS các VVDS, VVDS bao gồm: VADS và VDS.