Chương 1 Môi trường văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX 1. Chính sách văn hóa của Pháp ở Việt Nam đầu thế kỷ XX(1) Bước vào những năm đầu thế kỷ XX, có thể nói thực dân Pháp đã hoàn thành công cuộc xâm lược và chiếm đóng Việt Nam bằng quân sự. Trên thực tế, nỗ lực vận động yêu nước, cứu vong cứu tồn cho dân tộc của các sĩ phu về cơ bản đã thất bại. Ở ngoài Bắc, tuy vẫn còn Hoàng Hoa Thám đơn thương hoạt động chống Pháp dai dẳng đến 1913, nhưng đó chỉ là nỗ lực cuối cùng của phong trào kháng chiến bằng quân sự.
Tình hình chung tương đối ổn định và thực dân Pháp có thể thiết định bộ máy cai trị dân sự trên toàn Việt Nam và toàn cõi Đông Dương. Trong đó đáng chú ý là thiết lập một hệ thống giáo dục Pháp – Việt nhằm đào tạo một tầng lớp thông ngôn, thư lại phục vụ cho những chủ trương và chính sách bảo hộ. Từ tháng 10 năm 1902 đến tháng 2 năm 1908, toàn quyền Đông Dương Paul Beau đã chủ trương “thay thế chính sách thống trị bằng chính sách liên hợp”. Năm 1917, toàn quyền Albert Sarraut ban bố “Học chính Tổng quy” (tức luật giáo dục chung) và hủy bỏ giáo dục truyền thống trên cả ba kỳ.
Trong ba cuộc cải cách giáo dục (1906, 1917 và 1926) thì năm 1906, giáo dục truyền thống chuyển giao theo cách giáo dục mới, trong đó chữ Nho vẫn được dùng nhưng bổ sung thêm chữ quốc ngữ, chữ Pháp, Toán và một số môn khoa học. Cuộc cải cách thứ hai mở ra bằng việc bãi bỏ Nho học, tiếng Pháp trở Để đảm bảo sự tập trung, chúng tôi sẽ khoanh phạm vi tìm hiểu trong quãng thời gian (1) 1910–1920 – thời điểm hoạt động của ĐDTC và tác giả Phan Kế Bính. 12 thành ngôn ngữ chính trong nhà trường Pháp - Việt. Và một dấu mốc cũng hết sức quan trọng trong khoảng 1906 đến 1917 là việc bãi bỏ thi cử chữ Hán ở Bắc Kỳ năm 1915, đồng thời việc dạy quốc văn cũng đã phổ thông nhiều trường học ở thôn quê.
Năm 1919 chấm dứt vĩnh viễn cơ chế tuyển dụng quan lại thông qua khoa cử Hán học. Và cuộc cải cách giáo dục năm 1926 được mở ra bằng việc tập trung vào các trường sơ học Pháp – Việt: các làng phải mở trường học, lấy tài chính từ đóng góp của dân, cho học chủ yếu bằng tiếng mẹ đẻ, tiếng Pháp và Hán tự là những môn không bắt buộc. Mục tiêu duy nhất của nhà cầm quyền Pháp khi nhấn mạnh việc phổ biến chữ quốc ngữ là để cắt đứt mọi sự tiếp xúc và liên lạc chặt chẽ giữa người Việt Nam và Trung Hoa đã có từ ngàn năm trước. Với thực dân, đó là phương tiện tốt nhất để Âu hóa nho sĩ Việt Nam, từ xưa không biết một nền văn minh nào khác ngoài Trung Hoa.
Nhận xét của Piri, hội viên trường Viễn Đông bác cổ (EFEO) đã xác nhận mục đích này của chính phủ Pháp: Sự thật, người Annam mà chúng ta đang bảo hộ, đang cai trị đã được giáo dục theo khuôn mẫu của Trung-hoa, hơn lúc nào hết giới Nho sĩ đã chịu ảnh hưởng tích cực của Trung-hoa. Họ chỉ biết, chỉ hiểu qua Trung-hoa, theo Trung-hoa và theo một cách lâu dài. Đối với giai cấp này, điều cần nhất là phải chuyển hướng giáo dục. Vấn đề này sẽ giữ mãi như thế, bao lâu tình trạng hiện tại còn kéo dài, bao lâu người Tàu còn nắm giữ vai trò ưu thế ở đây, và bao lâu chưa thay thế chữ Hán bằng chữ Quốc ngữ cho mọi sự sử dụng thường ngày và tiếng Pháp được xem như là thượng tầng cơ sở giáo dục [9, tr.
79] Trong “Báo cáo của toàn quyền Sarraut” ngày 15/9/1917 tại Hà Nội cũng đã nhấn mạnh đến những ảnh hưởng xấu của văn hóa Trung Hoa đến công cuộc cai trị và bảo hộ của thực dân: Mới đây, một trong những cộng tác viên của tôi sau khi viếng thăm các tỉnh ở bắc Trung-kỳ đã xác nhận rằng các gia đình nho sĩ chỉ có trong tủ sách của họ các tác phẩm ngoại quốc phổ biến ở đây đều không nói gì đến Pháp hoặc chỉ giữ những lời phẩm bình bất lợi cho Pháp. Và những tác phẩm của Khang Hữu 13 Vi tiếp tục được mến chuộng nhiều và lưu hành trong thuộc địa, mặc dù có những sự cấm đoán của chính phủ về việc nhập cảng các loại sách Trung – hoa… [9, tr. 85] Giáo dục Hán học bị triệt tiêu, các trường học Pháp – Việt chưa thể tức thời tạo ra một đội ngũ trí thức mới, và cũng để tranh thủ các nhà cựu học mang tinh thần ái quốc nên đã hình thành xu thế khuyến khích số này chuyển sang môi trường hoạt động văn hóa mới. Bên cạnh đó, Pháp đưa ra những chính sách về báo chí nhằm giới thiệu phổ biến văn hóa phương Tây, và nhằm tạo nên một sức hút mới, một mối quan tâm mới cho độc giả nói chung và tầng lớp trí thức đầu thế kỉ XX nói riêng.
Sự xuất hiện của báo chí kéo theo một loạt các cơ sở vật chất cần thiết như: nhà in, nhà xuất bản,… ngày càng đầy đủ, dồi dào. Không chỉ tập trung ở hai thành phố lớn là Sài Gòn, Hà Nội mà ở cả các thành phố khác như Hải Phòng, Đà Nẵng, Nam Định, Vinh… cũng có nhà in và nhà xuất bản. Năm 1861 bắt đầu xuất hiện xưởng in Tipô, với bốn công nhân đưa từ Pháp sang. Nghề in chữ đúc này du nhập vào Việt Nam (tại Sài Gòn), đi theo đạo quân của tướng Bonard.
Ấn phẩm đầu tiên là tờ Công báo của quân đội viễn chinh Pháp ở Nam Kỳ (Bulletin officiel de Léxpetion de la Cochichine 1861). Năm 1865 xuất hiện một nhà in khác của chính quyền Pháp, in tờ báo đầu tiên bằng chữ quốc ngữ: GĐB. Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, Việt Nam đã có một hệ thống các nhà in phần lớn của tư bản Pháp như: Imprimerie Impériale (Nhà in Hoàng gia) năm 1867, Imprimerie C. Guillaud et Martinon năm 1883, Imprimrie Mission năm 1884, Imprimerie Réy et Curiol năm 1886 đều ở Sài Gòn… Nhà in Viễn Đông (IDEO) năm 1905 là nhà in sớm nhất của Hà Nội, rồi đến nhà in Nordemann (1905), nhà in Đông Kinh (1907)… Bên cạnh hệ thống nhà in là nhà xuất bản, tiêu biểu như: Chân Phương, Nam Ký… đã có công không nhỏ trong việc xây dựng nền báo chí và văn học 14 mới của Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX.
Báo chí, nhà in, nhà xuất bản lần lượt ra đời đã thúc đẩy phong trào viết văn, bắt đầu là văn báo chí và đem lại sự kích thích bước đầu cho cả hai phía: người viết và người đọc. Ở các nước trên thế giới, báo chí vốn chỉ là phương tiện thông tin. Trong Văn minh tân học sách cũng đã nói về điều này rất rõ: Các nước đặt ra báo chí có những danh mục như nhật báo, tuần báo, nguyệt san và bán nguyệt san. Thể tài thì chia ra chính trị, tin tức, thời sự, quảng cáo… Phàm việc trong việc ngoài, sáng chế mới, tình hình thương mại, cho đến pháp luật, mà y học, nông, thợ thuyền, thương gia, chẳng giới nào là không có báo.150 báo quán, Nhật-bản không quận nào là không có báo quán.
Trung Quốc gần đây cũng mở báo rất nhiều. Dân trí sở dĩ được mở mang là chính nhờ đó [11, tr. 80] Như vậy, có thể nhận thấy tầm quan trọng của báo chí trong việc truyền tải thông tin như thế nào. Nhưng đối với Việt Nam, báo chí lại có một vai trò quan trọng trong việc hình thành dòng văn chương mới.
Thiếu Sơn trong Phê bình và Cảo luận đã nói: “Trong những nước văn minh, văn học ra đời trước báo chí, nhưng ở Việt Nam, chính báo chí đã tạo nên nền văn học hiện đại”. Trong hồi ký của Nguyễn Công Hoan khi thuật lại bầu không khí văn chương thời ông mới bước vào công việc viết văn cũng nhấn mạnh điều này: “Trước kia, người viết văn ra làm báo, và trong khi làm báo, vẫn viết văn. Báo nào cũng có đăng văn chương, nên văn chương ra đời bằng con đường của báo chí. Chưa có báo chí thuần túy về văn chương, cũng chưa có nhà xuất bản in những sách văn học” [17, tr.
54], rồi: “thời đó, người ta lẫn lộn nhà báo với nhà văn, cũng như nhà văn với nhà báo” [17, tr. Nhà văn của thời kỳ này đối diện với trang báo đồng thời với trang giấy viết văn. Vẫn là Nguyễn Công Hoan viết: “Báo ra đời nhiều dần là miếng đất tốt cho việc gieo hạt văn chương” [17, tr. Huỳnh Văn Tòng trong Lịch sử báo chí Việt Nam cũng 15 đã nhận xét: “Ta thấy rằng văn học Việt Nam hiện đại thoát thai từ báo chí, khác với trường hợp ở các nước Tây phương là văn học đẻ ra báo chí” [11, tr.
Huỳnh Văn Tòng cũng nêu một nhận xét then chốt về vai trò báo chí trong nền văn học đầu thế kỷ XX: “Khi nghiên cứu văn học hiện đại, chúng ta hẳn chú ý rằng đa số các tác phẩm văn học đều đăng trước nhứt trên mặt báo, sau đó mới in thành sách. Bởi vậy, theo thiển ý chúng tôi, muốn nghiên cứu văn học hiện đại, ta nên xem qua lịch sử báo chí. Các nhà văn nổi tiếng lúc bấy giờ thường dùng báo chí để đăng tải lần hồi các tác phẩm văn học do họ sáng tác” [11, tr. Phạm Quỳnh trong bài “La Presse annamite” [Báo chí Annam] trên Nam phong số 107, tháng Bảy năm 1926 cũng viết: “Văn học hiện đại của chúng ta chỉ xuất hiện từ sau khi có báo chí ra đời.
Những tác giả đầu tiên của những tác phẩm được viết bằng chữ quốc ngữ đều được đào tạo trong môi trường báo chí” [11, tr. Những tác phẩm của Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của được đăng trên GĐB đã ảnh hưởng rất nhiều đến nền văn học Việt Nam trong giai đoạn đầu. Những nhà báo, nhà văn đầu tiên đã góp phần đắc lực vào việc phát huy nền văn học Việt Nam và chính lịch sử văn học Việt Nam đã đi đôi với lịch sử báo chí. Thời kì sau này, hai tờ báo quan trọng nhất đã góp phần vào việc xây dựng nền văn học Việt Nam là: ĐDTC và NPTC.
Nguyễn Sỹ Tế đã gọi ĐDTC là “cơ quan văn học đầu tiên bằng chữ quốc ngữ” [21, tr. 57], dù ĐDTC hay NPTC đều không thể coi là thuần túy văn chương được, nhưng rất nhiều chuyên mục trên báo đã xoay quanh vấn đề này: “viết bài khảo cứu và bình luận về văn học, phiên âm và dịch nghĩa các sách cũ, sưu tập các thơ văn cổ, in các sách quan trọng…” [21, tr.