Chương 1: Những vấn đề lí luận chung về tư tưởng nhân văn hiện thực trong văn học. Chương 2: Biểu hiện của tư tưởng nhân văn hiện thực trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Chương 3: Nghệ thuật biểu hiện tư tưởng nhân văn hiện thực trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN HIỆN THỰC 1.
Cơ sở hình thành tư tưởng nhân văn Văn học nghệ thuật mang nội dung nhân văn từ trong bản chất. Đó là giá trị xuyên suốt nhất trong chiều dài phát triển của văn học nhân loại. Một nền văn học được xem là nhân văn khi nó “quan tâm tới con người, tới những giá trị của con người” (dẫn theo [14, tr. Bởi con người là trung tâm của những sáng tạo văn học.
Dostoevski cho rằng “con người là một điều bí ẩn, cần phải khám phá con người…tôi muốn tìm hiểu bí ẩn ấy vì tôi muốn trở thành con người”(dẫn theo [61, tr. Ở con người luôn tồn tại những suy nghĩ, những tư tưởng cùng những cung bậc cảm xúc khác nhau. Nhiệm vụ của văn học là phải khám phá bản chất của con người thông qua phản ánh hiện thực. Ngoài ra văn học còn giúp con người nhận thức khám phá chính bản thân mình từ đó khám phá bản chất của đời sống xã hội.
Chủ nghĩa nhân văn là cơ sở hình thành nên tư tưởng nhân văn. Ở cấp độ lịch sử, “Chủ nghĩa nhân văn là một trào lưu văn hóa- tư tưởng nảy sinh ở Italia và một số nước khác ở châu Âu thời Phục hưng (thế kỷ XIV-XVI)” [15, tr. Như vậy, quê hương của chủ nghĩa nhân văn là vùng Bắc Ý, nơi có các đô thị lớn như Venise, Milan, Florence. Chủ nghĩa nhân văn được thực hiện bởi những nhà tư tưởng, những cá nhân ưu tú và giàu tinh thần cách mạng, sau đó ảnh hưởng mạnh mẽ sang các nước Pháp, Đức, Tây Ban Nha và sau cùng là Anh.
Ở mỗi xứ sở nó có những vùng đất riêng để phát huy những thế mạnh của mình như văn học, hội họa, âm nhạc, điêu khắc. Từ đó, chủ nghĩa nhân văn trở thành phong trào cơ bản của thời Phục hưng. Ăngghen cho rằng thời đại Phục hưng được xem là “bước ngoặt tiến bộ, vĩ đại nhất, từ trước đến nay loài người chưa từng thấy” (dẫn theo [8, tr. 11 Thời đại này đã đạt được những thành tựu rực rỡ về kinh tế - xã hội, văn hóa, tư tưởng.
Trong lĩnh vực kinh tế, điển hình là hành trình của nhà thám hiểm Cri-xtốp Cô-lôm-bô, đầu tiên phát hiện ra châu Mỹ, đã mở ra một thời kỳ mới đối với kinh tế hàng hải, gợi những khát khao hiểu biết và chinh phục của loài người. Ngoài ra những phát minh vĩ đại về mặt kỹ thuật, năng lượng, toán học, y học, địa lý và thiên văn làm đảo lộn quan niệm phản khoa học của chế độ phong kiến và hun đúc thêm quyết tâm thay đổi cuộc sống. Bên cạnh đó, những phát minh ra máy dệt, máy hơi nước, máy in… trong lĩnh vực công nghiệp cũng như ứng dụng khoa học vào nông nghiệp đã mang lại mùa màng bội thu trên những cánh đồng châu Âu đã thổi bùng lên khát khao chinh phục, khát khao làm giàu và hưởng thụ cuộc sống. Con người nhận ra rằng không thể chờ đợi đến khi lên thiêng đàng mới hạnh phúc, con người có thể hưởng hạnh phúc ngay trên trần thế này.
Bối cảnh đó đã góp phần tạo nên những luồng tư tưởng tiến bộ, đầu tiên là sự hình thành của chủ nghĩa nhân văn. Trở lại lịch sử trước khi chủ nghĩa nhân văn ra đời, con người sống chìm trong “bầu trời ảm đạm của đêm trường Trung cổ” [8, tr. Chế độ phong kiến Trung cổ và nhà thờ Thiên Chúa giáo đã truyền bá nhân sinh quan rất đen tối và nghiệt ngã. Con người thời kỳ này hoàn toàn mất đi giá trị và không thể làm chủ tư tưởng khi đắm chìm trong quan niệm của nhà thờ.
Nhà thờ Thiên Chúa giáo quan niệm, con người sinh ra là tội lỗi, trần gian là chốn khổ đau, con người cần phải nhẫn nhục hy sinh phần xác để cứu rỗi linh hồn. Những ai biết chăm lo phần hồn và Đức tin thì khi rời bỏ thể xác sẽ được lên thiên đường gặp mặt Chúa trời. Họ cũng hướng đến trần thế nhưng coi thường những thú vui vật chất và thể xác. Trong khi đó giai cấp phong kiến và tăng lữ ra sức hưởng thụ hoan lạc cuộc sống và đắm chìm trong ăn chơi trác táng.
Trung cổ phong kiến đã lợi dụng Đức tin của con người để kìm hãm tinh thần đấu tranh trong quần chúng. 12 Trước tình hình đó, chủ nghĩa nhân văn ra đời nhằm đưa con người thoát khỏi siềng xích trói buột của chế độ phong kiến thời Trung cổ và nhà thờ Thiên Chúa giáo, và chống lại nhân sinh quan chán đời và khổ hạnh của chủ nghĩa khổ hạnh và triết học diệt dục. Sự xuất hiện của chủ nghĩa nhân văn đã làm thay đổi hệ thống tư tưởng, thế giới quan và nhân sinh quan của con người, loại bỏ những quan niệm trái với tự nhiên, mở ra một tương lai hoàn toàn mới cho nhân loại. Thế giới quan lấy thượng đế làm trung tâm đã nhường chỗ cho thế giới quan lấy con người làm trung tâm.
Chủ nghĩa nhân văn đề cao quyền sống của con người, đặt biệt là quyền tự do cá nhân, đòi hỏi quyền sống tự nhiên và tự do ngay trần thế này. Những tư tưởng này được xem là bước ngoặc quan trọng trong quá trình giải phóng tinh thần và ý thức của nhân loại. Chủ nghĩa nhân văn tìm thấy ở thời kỳ cổ đại tinh thần trân trọng và đề cao con người. Đi sâu nghiên cứu những thành tựu rực rỡ của nền văn hóa cổ đại Hy Lạp- La Mã đã bị lãng quên và mất đi ở thời kỳ Trung cổ.
Tìm thấy ở đó vẻ đẹp nhân văn, những biểu tượng sáng ngời về vẻ đẹp của con người, về tinh thần đấu tranh cho tự do và bình đẳng. Nó hướng văn học nghệ thuật vào sáng tạo và ca ngợi vẻ đẹp của trần thế cũng như vẻ đẹp trong tâm hồn của con người. “Nó trở thành lý tưởng thẩm mỹ có sức định hướng cho những tìm tòi sáng tạo nghệ thuật và quy định bản chất của mỗi nền văn học nghệ thuật” [15, tr. Như vậy, tư tưởng nhân văn hình thành trên nền tảng của chủ nghĩa nhân văn thời Phục hưng.
Nó không tồn tại một cách độc lập mà tồn tại đồng thời bên cạnh các trào lưu văn hóa – tư tưởng khác. Thực ra, tư tưởng nhân văn có trong hệ tư tưởng mọi thời đại kể cả thời kỳ Trung cổ, nhưng đến thời Phục hưng, những tư tưởng nhân văn mới được hội tụ lại thành các trào lưu nhân văn và được nâng lên thành Chủ nghĩa nhân văn. Nghĩa là, tư tưởng nhân văn mang trong mình đầy đủ bản chất của tư tưởng nhân văn truyền thống vốn tồn 13 tại ở các nền văn hóa trước đây kết hợp với những thành quả của thời đại. Vậy nên, tư tưởng nhân văn được xem là tư tưởng tiến bộ nhất của thời đại Phục hưng, là sự đóng góp lớn lao đối với lịch sử tư tưởng của nhân loại.
Khái niệm tư tưởng nhân văn trong mối quan hệ với khái niệm nhân đạo, nhân bản Trong văn học, khi tìm hiểu về tư tưởng nhân văn cần quan tâm đến các khái niệm gần gũi khác như nhân đạo, nhân bản. Tư tưởng nhân bản nhằm mục đích xem xét con người trên bình diện triết học, nó quan tâm đến bản chất người dưới góc độ tự nhiên với những bản năng vốn có của con người. Khái niệm này thiên về khía cạnh bản thể của con người. Vì vậy các nhà triết học nhân bản đồng nhất con người với tự nhiên.
Coi bản chất của con người mang tính sinh học, như một thực thể của đời sống. Trong khi đó tư tưởng nhân đạo được xem là đường đi của con người, là con đường để trở thành con người đúng nghĩa. Do đó thuật ngữ này thiên về khía cạnh đạo đức. Vấn đề nhân đạo trước đây được xem là vấn đề phổ quát nhất và mang tính nhân loại sâu sắc.
Nó thể hiện tình yêu thương, đồng cảm và cảm thông đối với nỗi đau, niềm day dứt của con người cũng như lên án gay gắt những thế lực chà đạp lên quyền mưu cầu hạnh phúc của con người. Trong văn học, tinh thần nhân đạo có mặt trong hầu hết các thể loại xuyên suốt các thời đại. Nó được xem là giá trị cơ bản, vĩnh hằng trong các giá trị của văn học. Tư tưởng nhân văn hiểu theo từng từ tố thì “nhân” là người, “văn” có nghĩa là vẻ đẹp.
Nhân văn có thể được hiểu là những giá trị đẹp đẽ nhất, hướng đến vẻ đẹp của con người. Con người được thể hiện trong chủ nghĩa nhân văn không phải là con người mang tính phổ quát toàn nhân loại mà là con người với tư cách là một cá nhân, cá thể. Ngay từ đầu, khái niệm nhân văn không xuất hiện một cách rõ nét như khái niệm nhân đạo bởi cảm hứng 14 chủ yếu trong văn học thời kỳ cổ đại, trung đại là cảm hứng về một cộng đồng người. Con người sống trong cộng đồng và hòa mình vào với cộng đồng.
Về sau, cùng với sự phát triển của xã hội, nhu cầu về tinh thần của con người ngày càng tăng, con người dần dần tự ý thức về cá nhân, cá tính của mình. Con người đã dần tách ra khỏi cộng đồng đi tới khẳng định cá tính riêng của mình. Lúc này, ý thức về một con người cá nhân mới bắt đầu được chú ý và trân trọng. Như vậy có thể thấy, từ một thuật ngữ nước ngoài có gốc Latinh là Humanus, các tiếng dòng Latinh như tiếng Anh gọi là Humanism có nghĩa là thuộc về con người.
Bên cạnh đó còn có thuật ngữ Humanitas được coi là môn học nghiên cứu về bản chất, cá tính, vị trí của con người. Song dù thuộc phạm trù nào thì đối tượng mà tư tưởng nhân văn hướng đến vẫn là con người, hướng đến khẳng định những giá trị bất biến của con người, tin tưởng vào khả năng của con người trên con đường tìm kiếm Chân, Thiện, Mỹ. Vấn đề cơ bản của tư tưởng nhân văn Tư tưởng nhân văn đi tìm vẻ đẹp của con người toát ra từ hình thể, tâm hồn, tư tưởng, trí tuệ và cử chỉ. Từ bao đời nay, con người không ngừng tìm kiếm cái đẹp, chặng đường ấy chưa bao giờ ngừng mà sẽ vẫn còn tiếp tục.