Chương 1. Những vấn đề chung Nhiệm vụ của chương này là trình bày những vấn đề cơ sở lý luận chung, từ đó làm nền tảng để người viết có thể triển khai các vấn đề trong phần những chương kế tiếp. Cụ thể, người viết sẽ trình bày về ba vấn đề cơ bản đó là truyền thống văn hóa của người Việt; qua đó trình bày sự hình thành và phát triển, văn 18 hóa ứng xử và trình bày một số nét khái quát về cuộc đời cũng như sự nghiệp văn chương của Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương. Ứng xử đối với bản thân và môi trường tự nhiên Trong chương hai, người viết trình bày về những nội dung ứng xử với bản thân trong thơ Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương, từ đó chỉ ra những ý thức cá nhân của hai nhà thơ và sự khác biệt trong lối ứng xử với bản thân của họ.
Ngoài ra, trong chương này, người viết cũng trình bày biểu hiện về ứng xử của Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương với môi trường tự nhiên cụ thể là thiên nhiên với vai trò như một đối tượng để ngâm vịnh cũng như gửi gắm những tâm tư của họ. Ứng xử đối với môi trường xã hội và gia đình Song song với những vấn đề được triển khai ở những chương trên, nhiệm vụ của chương ba là khai thác các vấn đề về ứng xử với môi trường xã hội và gia đình trong thơ Nguyễn Khuyến cũng như trong thơ Trần Tế Xương. Từ đó, làm rõ những nét độc đáo, thú vị trong lối ứng xử mà họ đã xây dựng trong những sáng tác của mình. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.
Truyền thống văn hóa của người Việt Truyền thống văn hóa chính là những giá trị văn hóa được truyền lại dưới nhiều hình thức và thường xuyên được làm giàu thêm, trau dồi thêm theo quy luật nội tại của chính nó. Có rất nhiều những quan niệm khác nhau khi nhắc về truyền thống văn hóa của người Việt. Có nhiều người quan niệm đồng nhất văn hóa Việt Nam với văn hóa của người Việt, trình bày lịch sử văn hóa Việt Nam chỉ như là lịch sử văn minh của người Việt. Cũng không ít ý kiến cho rằng truyền thống văn hóa của người Việt là toàn bộ văn hóa các dân tộc Việt Nam cư trú trên mảnh đất Việt Nam, chỉ có văn hóa từng tộc người, không có văn hóa dân tộc, quốc gia.
Và quan niệm được nhiều người đồng thuận và quan tâm hơn cả, đó là quan niệm truyền thống văn hóa của người Việt là cộng đồng văn hóa dân tộc, quốc gia, đây là nền văn hóa dân tộc thống nhất trên cơ sở đa dạng sắc thái văn hóa tộc người. Có thể thấy rằng, văn hóa của người Việt có sự ảnh hưởng rất lớn từ văn hóa phương Đông, nếu như phương Tây có cội nguồn văn hóa từ cái cội rễ du mục thì phương Đông có nguồn cội là nông nghiệp. Vì lẽ đó, người phương Đông không chuộng lối sống chăn nuôi, du cư, trọng động mà họ ưa lối sống trồng trọt, định cư và trọng tĩnh, hướng nội. Việt Nam cũng là một trong số những đất nước có nền văn hóa thuộc kiểu văn hóa nông nghiệp lúa nước.
Dù vậy, văn hóa Việt Nam cũng có những nét tương đồng và khác biệt nhất định so với nền văn hóa của các nước trong khu vực và trên thế giới. Cư dân Việt Nam chủ yếu sinh sống bằng nghề nông, nhất là nghề nông nghiệp lúa nước, vì vậy một lúc cần phụ thuộc vào nhiều yếu tố thiên nhiên như: thời tiết, nước, khí hậu… nên về mặt tư duy nhận thức người Việt đã hình thành nên lối tư duy tổng hợp, biện chứng (trọng quan hệ) theo kiểu “Bầu ơi thương lấy 20 bí cùng/ Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” hay “Một giọt máu đào hơn ao nước lã”. Bên cạnh đó, người Việt cũng hình thành nên lối tư duy nhận thức chủ quan và duy linh. Nếu như ở phương Tây, trong quan hệ ứng xử với môi trường tự nhiên người ta coi trọng sự chinh phục và chế ngự, thì người phương Đông trong đó có người Việt lại sống hòa hợp với tự nhiên.
Và từ đó dẫn tới lối sống linh hoạt luôn thay đổi để thích nghi với hoàn cảnh. Trong cuốn “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam”, tác giả Trần Ngọc Thêm đã đề cập đến năm đặc trưng lớn trong nét văn hóa truyền thống của người Việt. Đó là tính cộng đồng, tính ưa hài hòa, thiên về âm tính và tính tổng hợp. Bởi lẽ, Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp, trong truyền thống đó lại là kiểu nông nghiệp thuần túy.
Với đặc trưng là tính thời vụ cũng như nhu cầu chống thiên tai, bảo vệ an ninh trật tự xã hội đã quy định văn hóa làng xã cộng đồng của người Việt. Mặt khác, người Việt Nam mang trong tư tưởng mềm dẻo, hiếu hòa vì lẽ đó từ xa xưa họ đã mang trong mình tư duy lưỡng phân - lưỡng hợp. Đồng thời, là đất nước có điều kiện tự nhiên là xứ nóng, nhiều mưa, đồng bằng ẩm thấp vì vậy đã dần hình thành nên lối sống nông nghiệp âm tính, do vậy mà tính cách văn hóa Việt Nam cũng thiên về âm tính ở chừng mực nhất định. Đó cũng là nguồn gốc của sự hình thành mối quan hệ trọng tình, trọng đức, trọng phụ nữ và trọng văn.
Nhìn chung, văn hóa người Việt thường linh hoạt ưa hài hòa, trọng tình cảm và đề cao vai trò của tập thể. Quan hệ ứng xử của người Việt vì thế mà cũng thuận theo tự nhiên, hòa hợp với tự nhiên trong quan hệ với môi trường. Chính vì thế mà trong văn hóa truyền thống của người Việt, tín ngưỡng dân gian đã phát triển một cách hết sức tự nhiên trong đời sống của dân tộc.Sự hình thành và phát triển. Tín ngưỡng dân gian 21 Theo Từ điển Tiếng Việt, thì “Tín ngưỡng là tin theo một tôn giáo nào đó” [34, tr.
Và có thê hiểu rằng, tín ngưỡng dân gian là tập hợp những niềm tin hình thành và phản ánh ước nguyện của một cộng đồng người có thể nhưng không nhất thiết tuân theo một hệ thống tôn giáo nhất định. Văn hoá tín ngưỡng dân gian không chỉ làm nên những giá trị tinh thần, tình cảm, tâm thức và tâm linh của văn hoá mà còn góp phần tạo nên bản sắc và sức sống lâu bền của văn hoá các dân tộc. Mỗi tín ngưỡng dân gian đều có nhiều biến thể, trong quá trình hình thành và phát triển của nó. Từ xa xưa, Việt Nam là một quốc gia sống bằng nghề nông nghiệp nên sự gắn bó với tự nhiên vô cùng lâu dài và bền chặt, vì lẽ đó sùng bái thần linh là một tín ngưỡng mang tính tất yếu của người Việt.
Trong lối tín ngưỡng ấy, chúng tôi tạm chia ra là lối tín ngưỡng thờ cúng tự nhiên và tín ngưỡng thờ cúng con người. Trước hết, tín ngưỡng dân gian của người Việt cho rằng trong vạn vật, trời đất luôn ẩn chứa những quyền năng thiêng liêng và nó có thể khiến con người có được những phúc lành hay tai họa bất cứ lúc nào. Sống trong thế giới ấy, con người hiểu rằng “có thờ có thiêng, có kiêng có lành”, họ vừa mang thái độ mong được thần linh phù hộ, và có thái độ e sợ, thành kính. Biểu hiện rõ rệt cho điều ấy đó là hành vi tín ngưỡng cầu cúng, khấn vái thần linh với mong cầu được chở che của dân gian.
Ca dao đã ghi lại ước muốn, nguyện vọng của dân gian với đất trời: Lạy trời mưa xuống Lấy nước tôi uống Lấy ruộng tôi cày Lấy đầy bát cơm Có thể thấy rằng, quan niệm của dân gian ta thì mọi thần linh đều vô cùng quan trọng, trước hết đó là Bà Trời, Bà Đất, Bà Nước – những vị thần cai quản các 22 hiện tượng tự nhiên quan trọng, gắn bó với đời sống của người làm nông nghiệp nói chung trong đó có người Việt. Tín ngưỡng dân gian đã thờ bộ ba nữ thần ấy qua lối Tam Phủ với ba bà là Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải cai quản ba vùng trời – đất – nước. Nhiều nhà, ở mỗi góc sân đều có đặt một bàn thờ lộ thiên gọi là bàn thờ Bà Thiên. Nhiều vùng, Bà Đất, Bà Nước trong tín ngưỡng dân gian trở thành những thần khu vực như Bà Chúa Xứ, Bà Chúa Sông…Vì vậy mà trong tục ngữ dân gian có câu “Lệnh làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng ấy thờ”.
Ngoài ra, Thần Đất còn tồn tại trong tín ngưỡng dân gian là Mẹ Đất, Bà Nước dưới tên gọi là Bà Thủy. Không phải ngẫu nhiên mà khi chưa có ý thức về âm – dương cũng như ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa trọng dương gốc du mục, trong tín ngưỡng dân gian người Việt hầu hết đều tôn thờ nữ thần. Bởi lẽ tính chất âm tính của văn hóa nông nghiệp dẫn đến hậu quả trong lĩnh vực quan hệ xã hội là lối sống thiên về tình cảm, trọng phụ nữ và gia tăng niềm tin linh thiêng đối với các vị thánh thần mà mình phụng thờ hay cầu khấn. Và họ truyền tụng với nhau trong ca dao, dân ca rằng, vạn vật khắp nơi đều có thần linh, để từ đó răn dạy mình phải sống tốt hơn trong cõi đời này: Lênh đênh qua cửa Thần Phù Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm (Ca dao) Thứ hai, trong tín ngưỡng dân gian của người Việt, với niềm tin rằng khi con người ta khi chết sẽ về với tổ tiên nơi chín suối nên họ vẫn có tục thờ cúng tổ tiên ông bà.
Thờ cúng ông bà tổ tiên là một nét văn hóa lâu đời trong dân gian người Việt, nó đã ăn sâu vào nếp sống của nhân dân ta. Đó là quan niệm “sống gửi, thác về” hay “chết là thể xác, hồn là tinh anh”. Người Việt tin rằng dù đã ở nơi chín suối nhưng ông bà vẫn luôn về phù hộ cho con cháu, vì vậy mà tín ngưỡng thờ cúng ông bà tổ tiên đã hình thành trong tín ngưỡng dân gian của người Việt. 23 Không phải ngẫu nhiên mà trong tiếng Việt tôn giáo là biến âm từ tông giáo: tôn giáo là việc giáo dục theo nền nếp của tổ tông.
Bởi lẽ hầu hết, từ xưa cho đến nay, bất cứ gia đình nào cũng có bàn thờ tổ tiên và nó gần như là một tôn giáo, dân gian ta vẫn dạy “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, “Uống nước nhớ nguồn”,. Khác với phương Tây coi trọng ngày sinh, trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, tục thờ cúng tổ tiên trọng việc cúng giỗ vào ngày mất, vì người ta tin rằng đó là thời khắc mà con người đi vào cõi vĩnh hằng.