Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA, THỜI GIAN RỒI. VA TONG QUAN THANH NIEN PHUONG THANH XUAN BAC 1,1. Một số khái niệm chính. Thời gian rỗi 1.
Thời gian rỗi “Thời gian là một khái niệm trừu tượng, một trong những tải sản vô cùng quý giá mà con người có được. Việc phân bồ thời gian cho các hoạt động khác nhau trong ngày phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Thời gian trong ngày, được chia. làm hai phần: một là, thời gian dành cho các hoạt động trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội, thực hiện nhu cầu thiết yếu nhất của con người (ăn, mặc, ở), gọi chung là hoạt động vật chất nhằm mục đích sinh tồn.
Hai là, dành cho các hoạt động đáp ứng những nhu cầu khác gọi chung là nhu cầu hoạt động. văn hóa, xây dựng đời sống tỉnh thần. Con người được tự do lựa chọn tham gia các hoạt động văn hóa sau khi hoàn thành quỹ thời gian bắt buộc của xã hội. Nhu vậy, thời gian rỗi được hiểu là quỹ thời gian còn lại con người có được trong một ngày sau khi đã dành thời gian để thực hiện trách nhiệm bắt buộc.
“Trong quỹ thời gian này, con người có rất nhiều lựa chọn đáp ứng nhu cầu cần thiết về mặt đời sống văn hóa tinh thần như: chơi thể thao, tham gia hoạt động. văn hóa văn nghệ, nâng cao tr thức nhận thức cá nhân, vun đắp tình cảm bạn bẻ, gia đinh cũng có khi là phục vụ sở thích cá nhân riêng. "Thời gian rỗi là quỹ thời gian được sử dụng vào các hoạt động văn hóa mang tính xây dựng đời sông tỉnh thần cho con người. Ngày nay, con người bị chỉ phối bởi áp lực cuộc sống, quỹ thời gian rỗi trong ngày có rat it, cá biệt hơn là trường hợp người không có thời gian rỗi trong ngày.
Thông qua các hoạt động văn hóa trong khoảng thời gian đó con người giải tỏa áp lực sức 16 nặng công viêc, thõa mãn các nhu cầu tỉnh thần của bản thân, tiếp thu văn hóa tham gia với vai trò là thành viên của xã hội day mạnh sự tự tin, năng động góp phần vào các hoạt động văn hóa mang tính xã hội, tập thể cao. 'Về quan điểm thời gian rỗi hiện nay có rất nhiều quan điểm của nhiều. nhà nghiên cứu khác nhau như: -Theo C. Mac, quỹ thời gian của cá nhân và xã hội được phân chia thành thời gian lao động và thời gian tự do.
Thời gian lao động là khoảng thời gian tất yếu mà mỗi cá nhân buộc phải thực hiện công việc lao động để đảm bảo sự sinh tổn. Thời gian tự do là khoảng thời gian còn lại ngoài thời gian lao động, dành cho những hoạt động mà cá nhân có quyền tự quyết định, tức là thời gian không lao động. Mác cũng tiên đoán rằng ở xã hội tương lai lao động không còn cực nhọc mả là lao động sáng tạo, mang lại niềm vui cho con người. Khi đó, thời gian rỗi tăng chứng tỏ năng suất lao động đã đủ cao, tạo điều kiện cho con người thoát khỏi sự nặng nhọc, vắt vả của lao động để phát triển nhân cách đầy đủ và toàn diện.
~Trong công trình "xã hội học văn hóa” của tác giả Đoàn Văn Chúc các khái niệm thời gian rỗi và hoạt động trong thời gian rỗi được phân tích như sau: trong bat cứ thời đại nào, văn minh nào, con người đều sử dụng thì giờ vào bốn loại: M6t là, những hoạt động thuộc lao động sản xuất để đảm bảo sự sống. cho cá nhân và xã hội nói chung. Đó là nghĩa vụ xã hội của con người. Hai là, những hoạt động thuộc quan hệ cá nhân trong đời sống xã hội, như dạy dỗ con em, chăm mom gia đình, họ hang, bạn bè, xóm giềng.đó là bổn phận xã hội của con người.
Ba là, những hoạt động thuộc sự duy trì, bảo vệ đời sống vật chất của. cá nhân như nấu nướng, dọn dẹp chỗ ở, sửa sang đồ dùng, ăn uống, ngủ, tắm.đó là nhu cầu vật chất cá nhân của con người. 7 Bồn là, những hoạt động thuộc đời sống tỉnh thần của cá nhân được diễn ra bằng các phương pháp khác nhau: xem báo, xem sân khấu, đánh đàn, làm thơ, đi đạo, thờ cúng. đó là nhu cầu tỉnh thần của mỗi người.
'Ba dạng hoạt động trên chiếm khoảng thời gian không nhỏ trong ngày của mỗi người để thực hiện nghĩa vụ, bỗn phân với xã hội và nhu cầu tắt yếu của cá nhân. Dạng thứ tư, diễn ra vào khoảng thời gian không nhiều trong. ngày, đó là khoảng thời gian con người đã làm xong ba loại bổn phân trên. Đặc điểm cá nhân được tự lựa chọn loại hình hoạt động trong thời gian đấy, các hoạt động mang tính tinh thần.
Để tiện phân biệt người ta gọi số thì giờ dành cho chúng là thời gian rỗi và các hoạt động trong thời gian đấy là hoạt động rỗi. ~Theo tác giả Đoàn Văn Chúc, thời gian rỗi có nhiều cấp độ khác nhau. Thời gian rỗi cắp ngày gồm hai dạng: dạng thứ nhất là khoảng nghỉ giữa buổi lao động để phục hồi sức lao động và dạng thứ hai là khoảng nghỉ sau một ngày lao động và sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ cá nhân, đáp ứng mọi nhu vật chat. Day là thời gian dành cho các hoạt động tinh thần.
Quỹ thời gian rỗi cấp tuần, là gồm những ngày nghỉ cuối tuần. Quỹ thời gian rỗi cấp năm, là kỳ nghỉ phép hay nghỉ hè hàng năm. Quỹ thời gian rỗi cấp đời người, là thời gian nghỉ hưu. ~Theo từ điển Hán Việt của nhà văn hóa học Đào Duy Anh thời gian rỗi được hiểu là *khoảng thời gian mà trong đó con người không bị thúc bách bởi các nhu cầu sinh tồn, không bị chỉ phối bởi bắt cứ nghĩa vụ khách quan nào.
Nó dành cho các hoạt động tự nguyện, theo sở thích chủ thể nhằm thòa mãn nhu cầu tỉnh thần của con người” [I, tr27] ~Theo Từ điển tóm tắt Xã hội học (tiếng Nga), thời gian rỗi được coi là khái niệm đồng nghĩa với thời gian tự do, nghĩa là “phần thời gian ngoài giờ lao động của cá nhân (nhóm xã hội) còn lại sau khi đã trừ đi chỉ phí thời gian cho những hoạt động cần thiết không thẻ thiếu. 18 ~Theo ý kiến của tác giả Nguyễn Công Lý cho rằng quỹ thời gian rỗi là khoảng thời gian con người có thể nghỉ ngơi, giải trí để khôi phục sức lực, để tái sản xuất sức lao động, hoặc học tập nâng cao trình độ, hoặc có thẻ lao động. ngoài giờ để kiếm thêm thu nhập hay có thể làm bắt kỳ việc gì mà mình ưa thích. Hiện nay, vẫn còn nhiều quan điểm về thời gian rỗi khác nhau, qua.
phân tích, tìm hiểu các cách hiểu về thời gian rỗi, tác giả đề xuất cách hiểu về thời gian rỗi làm định hướng nghiên cứu cho đề tài như sau: Thời gian rỗi là những khoảng thời gian mà cá nhân không bị chỉ phối bởi các nội quy, quy chế làm việc. Thời gian đó dành cho các hoạt động tự do, với sự thanh thản về. trí óc, sự bay bỗng về tâm hỗn, họ tìm đến những hoạt động giải trí nhằm thoả mãn nhu cầu đời sống tinh thần của họ. Thời gian rỗi của con người được xác định cụ thể trong một ngày như: đọc sách, xem truyền hình, nghe nhạc, thể thao, truy cập mạng.
Thời gian rỗi cuối tuần là: du lịch, gặp bạn bè, ngày. Thời gian rỗi trong năm là khoảng thời gian dịp lễ tết.2 Ý nghĩa văn hóa của thời gian rỗi Thời gian rỗi là khoảng thời gian để con người xây dựng hệ tư tưởng và mục đích sống, hướng tới xây dựng những giá trị tinh thần cốt lõi bao. phong tục, thị hiếu và những giá trị chuẩn mực của xã hội. Nói đến thời gian rỗi và hoạt đông trong thời gian đó, là nói đến việc.
con người tham gia vào quá trình xây dựng các giá trị tỉnh thần hình thành nên một hệ thông các giá trị về mặt đạo đức lối sóng. Nói cách khác, thời gian rỗi và hoạt động văn hóa trong thời gian rỗi là yếu tố hình thành nên hệ giá trị văn hóa xã hội. Bởi văn hóa là quá trình sáng tạo của con người bảo gồm: "hoạt động vật chất và hoạt động tỉnht 'Về xã hội học, các hoạt động văn hóa đó gọi chung là hoạt động rỗi bởi phần lớn những hoạt động này đều diễn ra chủ yếu trong thời gian rỗi. Từ thời 19 xa xưa các hoạt động văn hóa, văn nghệ, được thực hiện ngoài thời gian lao.
đông của nhân dân ta chính là nền văn hóa dân gian, quá trình thực hiện sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hóa, các hoạt động thường được xuất phát từ một nhóm người lao động, rồi lan rộng ra cộng đồng. 'Việt Nam là kho tàng thể hiện sự sáng tạo không giới hạn của người dân lao đông, làm tác động mạnh mẽ đến nền văn hóa chung của cả nước và tác động. đến chính nên văn hóa của mỗi cá nhân, từ đó hình thành nên văn hóa xã hội. 'Qua hoạt động văn hóa trong thời gian rỗi, thấy được bản sắc dân tộc, nhận diện ra tâm hồn của mỗi người mỗi quốc gia, dân tộc, góp phần không nhỏ.
thành kho tầng văn hóa và bản sắc riêng. Bên cạnh thực hiện việc sáng tạo, hưởng thụ nền văn hóa thì thời gian rỗi còn là khoảng thời gian thích hợp. để cá nhân thực hiện các nhu cầu cần thiết của bản thân, trong đó có nhu cầu giao tiếp, tạo dựng và vun đắp các mối quan hệ xã hội cộng đồng. Bên cạnh quỹ thời gian lao động vật chất đảm bảo phục vụ cho nhu cầu thiết yếu cơ bản thì khoảng thời gian và hoạt động văn hóa cũng không thẻ thiếu trong mỗi con người Thông qua các hoạt động văn hóa trong thời gian rỗi, nhu cầu con người về các mặt giải trí được thỏa mãn, con người là chủ thể sáng tạo của.
văn hóa, bởi vậy khi các nhu cầu được thảo mãn con người sẽ có cơ hội được. sáng tạo nên các giá trị mới từ đó chất lượng của hoạt động trong thời gian rỗi được nâng cao. ‘Thong qua phan tích sự ảnh hưởng của quỹ thời gian rỗi và hoạt động trong khoảng thời gian rỗi, thấy được ý nghĩa vai trò to lớn của nó đối với con người trong xã hội. Thời gian rỗi được xem như khoảng thời gian con người nghỉ ngơi thư giãn tìm lại sự cân bằng trong trí não.