Chương 1: Những tiến triển chung của quyền tự do tôn giáo Chương 2: Tự do tôn giáo trong các vấn đề quốc tế hiện nay Chương 3: Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về tôn giáo trong quan hệ chính trị quốc tế 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 NHỮNG TIẾN TRIỂN CHUNG CỦA QUYỀN TỰ DO TÔN GIÁO Trong tiến trình lịch sử của nhân loại, quyền tự do tôn giáo có những bước thăng trầm, từng bước được khẳng định vị thế của quyền này trong những quyền cơ bản khác của con người và được luật pháp quốc tế thừa nhận, đảm bảo. Có những quan điểm khác nhau giữa các quốc gia về quyền tự do niềm tin tôn giáo, tuy nhiên, trong các văn bản quốc tế đều khẳng định quyền tự do niềm tin tôn giáo và các văn bản đó được xem là một trong những văn bản quan trọng, có tính phổ quát chung của toàn thế giới. Các quốc gia tham gia ký kết vào các Công ước Quốc tế đã áp dụng, đảm bảo quyền này trong luật pháp quốc gia, và ở những mức độ khác nhau, thể hiện mối quan hệ giữa luật pháp quốc gia và luật pháp quốc tế trong việc khẳng định, đảm bảo quyền tự do niềm tin tôn giáo của con người. Trong chương này, chúng tôi tập trung trình bày, (1) những bước phát triển của quyền tự do tôn giáo; (2) phân tích vấn đề bảo vệ quyền tự do tôn giáo trong các Công ước quốc tế, xem đó như một trong những nhiệm vụ bảo vệ quyền con người được cộng đồng quốc tế thừa nhận và những căng thẳng trong việc thực hiện bảo vệ quyền tự do tôn giáo.
Đây được xem là những cơ sở ban đầu cho việc nhìn nhận vấn đề tự do niềm tin tôn giáo trong quan hệ chính trị quốc tế hiện nay. Lịch sử phát triển của quyền tự do tôn giáo Lịch sử phát triển của quyền tự do niềm tin, tôn giáo gắn liền với những giai đoạn của lịch sử nhân loại và tôn giáo chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống xã hội, thậm chí có những giai đoạn chi phối cả đời sống chính trị. Rất khó có thể phân định rõ một/ mọi thời kỳ lịch sử hoặc nền văn minh/ văn hóa trong việc khẳng định những bước phát triển của quyền tự do niềm tin tôn giáo. Tuy nhiên, nhìn một cách tổng quát, lịch sử tiến triển của quyền tự do niềm tin tôn giáo trải qua những giai đoạn khó khăn, có những trở ngại 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhất định (từ ngược đãi đối với những người “dị giáo , các cuộc chiến tranh tôn giáo đến các cuộc “li giáo ) và đến cuối thế kỷ XX, quyền tự do niềm tin, tôn giáo được cộng đồng quốc tế thừa nhận như các quyền cơ bản khác của con người.
Châu u, trong nhiều thế kỷ, tôn giáo được đề cập như một chất keo gắn kết xã hội, mà ở đó chỉ có sự gắn kết sự thống nhất cho một xã hội Kito giáo. Những người Kito giáo từng là đối tượng bị ngược đãi, chịu nhiều đau khổ, dần dần trở thành chủ thể của sự ngược đãi.1 Kito giáo đã đạt được những vị trí quan trọng trong xã hội dưới thời Đế chế La Mã và trở thành tôn giáo chính thức với Sắc lệnh Milan (313).2 Sau khi Đế chế La Mã sụp đổ, Giáo hội Kito phát triển rộng khắp lấp đầy khoảng trống quyền lực xã hội và thực hiện những chức năng tôn giáo và chức năng thế tục của mình. Thomas Hobbes ví giai đoạn này: “Quyền giáo hoàng chẳng khác gì cái bóng ma đội vương miện của Đế chế La Mã đã chết ngồi trên lăng mộ của nó [47; 292]. Những nhà tư tưởng Kito giáo cũng đã giải quyết hài hòa việc “ngược đãi những người ngoài Kito giáo bằng lời khuyên của những người sáng lập, họ cho rằng “hãy yêu thương kẻ thù và làm ơn cho những kẻ ghét các con, hãy cầu nguyên cho những ai bắt bớ và nguyền rủa các con (Mt 5,44).
Cole Durham, Jr. Scharffs “cùng lời khuyên này có thể sau này sẽ thông báo sự đóng góp đáng kể của Kitô giáo cho việc công nhận quyền tự do tôn giáo là một quyền con người cơ bản. Từ thế kỷ thứ V đến thế kỷ thứ XIV, đây là giai đoạn mà khắp Châu u phần lớn là những người theo Kito giáo và nó bao trùm lên mọi mặt của đời sống xã hội và “đó không chỉ là một cộng đồng tôn giáo mà còn là một thực thể chính trị có tính cố kết [47; 292]. Một sự kiện quan trọng trong lịch sử 1 Dưới thời các Hoàng đế Diocletianus (cai trị từ năm 284 đến 305) đã ngược đãi những người Kitô giáo, trong khi đó các Hoàng đế Constantinus (cai trị từ năm 306 đến 337) tuyên bố sự chính thức chấm dứt của sự bách hại Kitô giáo và dần dần những người Kito giáo có được những vị thế, chính thức đảm nhận vai trò của kẻ đàn áp.
2 Năm 313 Hoàng đế Constantinus I đã lập cơ sở sau này để các đế chế trở thành nhà nước Kitô giáo. Năm 395, Hoàng đế Theodosius I đã biến Kito giáo thành tôn giáo chính thức của Đế chế La Mã, và là vị hoàng đế cuối cùng chỉ huy một Đế chế La Mã thống nhất. 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Giáo hội đã diễn ra vào năm 1054, sau những khủng hoảng trong Giáo hội Kito đã có khuynh hướng tách rời nhau, đó là cuộc “Đại li giáo giữa phương Tây (Công giáo theo văn hóa Latinh với trung tâm là Roma) và phương Đông (Chính Thống giáo theo văn hóa Hy Lạp)3. Sự phân li trong Giáo hội Kito giáo (1054) đã cho thấy Giáo hội Kito giáo tỏ ra khó hòa hoãn trong những vấn đề về cơ cấu tổ chức, giáo lý.
Sự li khai từ Giáo hội Kito của Chính thống giáo đã cho thấy quyền tự do tôn giáo được sử dụng như một biện pháp hòa bình nhằm giảm những xung đột, thiệt hại, đảm bảo sự hài hòa của xã hội. Cũng trong khoảng thời gian này, bên cạnh sự tồn tại của Kito giáo ở Châu u, là sự lớn mạnh, bành trướng của những người Islam giáo với mạng lưới thương mại vượt qua những sa mạc rộng lớn cùng với những dòng người di cư đến những miền đất mới.4 Châu u thời gian này, đời sống tôn giáo trải qua những năm tháng “khắc nghiệt. Những sự mâu thuẫn về giáo lý cũng như những tranh chấp về lãnh thổ giữa hai tôn giáo (Kito giáo và Islam giáo) cũng như những mâu thuẫn trong chính Giáo hội Kito giáo, 5 đã gây nên những cuộc chiến tranh tôn giáo, “cuộc chiến thần thánh để bảo vệ ngôi Chúa trong lịch sử. Những phong trào li giáo ở thế kỷ XV – XVII ở Châu u, một hình thức dần khẳng định quyền tự do tôn giáo của cá nhân.
Trước những biến đổi của đời sống xã hội6; sự tha hóa về mặt đạo đức của các giáo sĩ và giáo triều 3 Thực chất quan hệ Đông - Tây bị chia rẽ bởi các yếu tố: thần học, chính trị và kỷ luật. Đại diện hai phái là giáo hoàng Roma Leo IX và Thượng phụ Constantinopolis Michael Cerularius liên tục có những xung khắc với nhau. Năm 1054, sứ thần Roma gặp Cerularius và yêu cầu ông thần phục Giáo hội Rôma là "mẹ của giáo hội hoàn vũ" nhưng Cerularius đã khước từ. Cùng năm, Rôma và Constantinopolis tuyên bố rút phép thông công lẫn nhau.
4 Tới năm 1000 sau Công nguyên, Constantinopolis có dân số khoảng 300,000 người, nhưng Rô-ma chỉ có 35,000 và Paris 20,000. Islam giáo đã có hơn mười thành phố lớn trải dài từ Córdoba, Tây Ban Nha, ở thời ấy là thành phố lớn nhất thế giới với 450,000 dân. 5 Như vụ xét xử Jonh Hus, một Linh mục xứ Bohemia – Tiệp Khắc (1415) vì sự lên tiếng của ông chống lại sự lạm dụng tăng lữ trong giáo hội và ông bị coi là kẻ “dị giáo và qua nhiều Hội nghị xét xử, ông bị thiêu sống theo lệnh của Tòa Thánh La Mã. 6 Cuộc cách mạng công nghiệp khoảng từ năm 1500 đến năm 1800 như: Cách mạng tư sản Hà Lan (1566- 1572), Cách mạng tư sản Anh (1640-1689), Chiến tranh giành độc lập ở Bắc M (1775-1783), Cách mạng tư sản Pháp (1789-1799).
21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Roma,7 cùng với các luồng văn hóa tư tưởng xã hội tiến bộ; sự bế tắc của tư tưởng thần học, đã nảy sinh ra nhiều tư duy mới để tái tổ chức lại xã hội. Giai đoạn này thế giới đã chứng kiến cuộc tranh luận gay gắt nhằm cải cách Giáo hội Công giáo Roma và những giá trị tôn giáo căn bản.8 Chính những phong trào Kháng cách9 đã dấy lên một làn sóng chiến tranh có nguyên nhân tôn giáo,10 tuy nhiên, cũng dễ thấy đó cũng là những tham vọng của triều đình phong kiến ở Tây u trở nên tập trung và hùng mạnh hơn, tiêu biểu như việc rời bỏ Giáo hội Công giáo của phái Anh giáo.11 Tuy nhiên, việc tách khỏi Giáo hội Công giáo La Mã và việc hình thành một Giáo hội Anh giáo không đặt tiền đề cho việc khẳng định quyền tự do niềm tin tôn giáo, đó chỉ là sự “ghen tị với quyền lực của Giáo hội Công giáo La Mã.12 Trước tình hình đó, Giáo hội Công giáo đã có những phản ứng bằng cách tiến hành chiến dịch chấn hưng Công giáo và phản đối phong trào Kháng Cách, do Công đồng Trento13 khởi xướng và được Dòng Tên thực thi triệt để. 7 Đó là việc nhiều người ở châu Âu bất bình về những điều họ cho là các giáo lý giả mạo và những lạm dụng phổ biến trong Giáo hội, nhất là việc rao giảng và bán phép ân xá (indulgence). Một hiện tượng khác gây bất mãn không kém là việc buôn bán chức thánh, cũng như tình trạng thối nát trong giới tăng lữ.
8 Phong trào cải cách được khởi xướng bởi Martin Luther. Trước Luther cũng có nhiều người lên tiếng cải cách Giáo hội như John Wycliffe và Jan Hus. Nhiều nhà cải cách có lập trường cấp tiến như Ulrich Zwingli và Jean Calvin cũng tiếp bước theo Luther. Trong số các giáo phái phát sinh từ cuộc Cải cách Tin lành, quan trọng nhất là cộng đồng Giáo hội Lutheran (ở Đức, vùng Baltic và Scandinavia) và các Giáo hội Cải cách Calvin (ở Pháp, Thụy sĩ, Hà Lan, Pháp và Scotland).
9 Những giáo lý của Giáo hội Công giáo mà những người chủ trương cải cách, muốn thay đổi là: ngục luyện tội, sùng bái Đức mẹ Maria, hầu hết các bí tích, việc cầu và sùng kính các thánh tình trạng độc thân bắt buộc của các chức sắc và tu sĩ và thẩm quyền của Giáo hoàng.