đặt vấn đề oan có “a. Ngƣời đƣợc miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật… c. Những ngƣời thuộc các trƣờng hợp quy định tại Điều 1 của Nghị quyết này mà cố ý khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu, vật chứng khác sai sự thật để nhận tội thay cho ngƣời khác hoặc để che giấu tội phạm”. Nhƣ vậy, theo các quy định nêu trên thì một ngƣời đƣợc bồi thƣờng thiệt hại, tức là đƣợc coi là bị oan do ngƣời có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra đều phải thuộc diện “Có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định ngƣời đó 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com không thực hiện hành vi phạm pháp luật” (điểm a, khoản 1 Điều 1-Nghị quyết 388) hoặc phải thuộc diện “Có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong họat động tố tụng hình sự xác định ngƣời đó không thực hiện hành vi phạm tội” (điểm b, c, d khoản 1 Điều 1 Nghị quyết 388).
Vấn đề đặt ra ở đây là, trƣờng hợp một ngƣời tuy có thực hiện hành vi phạm tội nhƣng đã bị áp dụng các biện pháp tố tụng không đúng quy định của pháp luật, thậm chí bị Tòa án tuyên bản án nặng hơn so với quy định của pháp luật thì có coi là bị oan không? Trƣờng hợp đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án nào đƣợc coi là oan? Và hiểu thế nào là “Không thực hiện hành vi phạm tội” trong Điều 1 Nghị quyết 388. Theo nghiên cứu của tác giả, trƣờng hợp một ngƣời tuy có thực hiện hành vi phạm tội nhƣng đã bị áp dụng các biện pháp tố tụng không đúng quy định của pháp luật, thậm chí bị Tòa án tuyên bản án nặng hơn so với quy định của pháp luật thì không đƣợc coi là bị oan, mà chỉ có thể xác định họ bị các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng sai pháp luật hình sự vì họ đã thực hiện tội phạm. Đối với trƣờng hợp đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án thì phải theo quy định của Điều 164, Điều 169, Điều 251 Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 164 quy định, a) Có một trong những căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 105 và Điều 107 của Bộ luật tố tụng hình sự hoặc tại Điều 19, Điều 25 và khoản 2 Điều 69 của Bộ luật hình sự; b) Đã hết thời hạn điều tra mà không chứng minh đƣợc bị can đã thực hiện tội phạm.
Điều 169 quy định, Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án khi có một trong những căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 105 và Điều 107 của Bộ luật này hoặc tại Điều 19, Điều 25 và khoản 2 Điều 69 của Bộ luật hình sự. Điều 251 quy định, khi có một trong những căn cứ quy định tại điểm 1 và điểm 2 Điều 107 của Bộ luật này thì Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, tuyên bố bị cáo không có tội và đình chỉ vụ án; nếu có một trong những căn cứ quy định tại 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com các điểm 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 107 của Bộ luật này thì hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án. Nhƣ vậy, không phải mọi trƣờng hợp đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án là gây nên oan, mà đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án gây nên oan chỉ có một trong ba trƣờng hợp sau đây đƣợc quy định tại Điều 107 và Điều 164 Bộ luật tố tụng hình sự: 1. Không có sự việc phạm tội; 2.
Hành vi không cấu thành tội phạm; 3. Đã hết thời hạn điều tra mà không chứng minh đƣợc bị can phạm tội. Còn lại tất cả những trƣờng hợp khác đều không đƣợc thừa nhận là làm oan trong hoạt động tố tụng hình sự. Xác định tình tiết “không thực hiện hành vi phạm tội” trong Điều 1 Nghị quyết 388, theo tác giả là ngƣời bị oan không thực hiện bất kỳ hành vi nào (bằng hành động và không hành động) đƣợc quy định trong Bộ luật hình sự.
Việc không thực hiện hành vi phạm tội đƣợc thể hiện ở chỗ có chứng cứ chứng minh không có sự việc phạm tội xảy ra, hành vi không cấu thành tội phạm và không có chứng cứ chứng minh bị can phạm tội, mặc dù đã hết thời hạn điều tra. Do đó, dƣới góc nhìn khoa học có đối chiếu pháp luật thực định, từ những chủ trƣơng, chính sách và văn bản cụ thể cũng nhƣ phân tích của những nhà khoa học đi trƣớc theo quan điểm cá nhân của tác giả có thể nêu khái niệm “Oan trong tố tụng hình sự” nhƣ sau: Oan trong tố tụng hình sự là trường hợp một người không thực hiện hành vi cấu thành tội phạm mà bị áp dụng các biện pháp tố tụng hình sự như bị tạm giữ, tạm giam, khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Những yếu tố xác định một ngƣời bị oan do ngƣời có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra Phải nhắc lại rằng, việc xác định một ngƣời có bị oan trong tố tụng hình sự hay không thì không thể chỉ dựa vào lời kêu cứu của họ hay sự đồn thổi của dƣ luận mà phải có căn cứ (cả căn cứ thực tế và căn cứ pháp lý).
Xác định một ngƣời có thuộc trƣờng hợp bị oan do ngƣời có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra hay không “nhất thiết phải là một phán quyết của cơ quan có thẩm quyền”. Căn cứ xác định một ngƣời bị oan về bản chất cũng chính là căn cứ để minh oan cho họ. Minh oan ở đây bao gồm: bồi thƣờng các thiệt hại vật chất, tổn thất tinh thần, phục hồi danh dự không chỉ cho ngƣời bị oan mà còn cho cả thân nhân, cơ quan tổ chức nơi họ công tác. Thực chất của việc xác định oan trong tố tụng hình sự là minh oan cho ngƣời vô tội, khắc phục những hậu quả không đáng có đã giáng xuống đầu công dân.
Nguyễn Ngọc Chí và Đào Thu Hà khẳng định “Minh oan trong tố tụng hình sự là một quá trình bao gồm nhiều hành vi tố tụng ở các giai đoạn khác nhau của quá trình giải quyết vụ án và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Tham gia vào quá trình minh oan có nhiều chủ thể, trong đó có chủ thể phải thực hiện việc minh oan nhƣ một trách nhiệm pháp lý (cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng), có chủ thể chỉ tham gia vào quá trình đó với tƣ cách là ngƣời có quyền chứ không phải có trách nhiệm chứng minh sự vô tội của mình (bị can, bị cáo, ngƣời bị kết án)” [27]. Cũng theo TS. Nguyễn Ngọc Chí và Đào Thu Hà thì: “Cơ chế minh oan trong tố tụng hình sự bao gồm các yếu tố: 1/ Quyền bào chữa (tự bào chữa hoặc nhờ ngƣời khác bào chữa) của bị can, bị cáo; 2/ Trách nhiệm tiến hành các hoạt động minh oan của các cơ quan tiến hành tố tụng; 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3/ Bồi thƣờng thiệt hại cho ngƣời bị oan và trách nhiệm pháp lý của các cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng đối với việc làm oan ngƣời vô tội” [27].
Rõ ràng cả ở khía cạnh lý luận và theo quy định của pháp luật thực định thì việc xác định một ngƣời bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự là quyền hạn, đồng thời cũng là trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền mà cụ thể là cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự. Sở dĩ chúng ta khẳng định nhƣ vậy là bởi: chỉ các cơ quan đó mới có thẩm quyền đƣa ra những phán quyết về việc kết tội hay gỡ tội trên cơ sở các quy phạm pháp luật. Điều 72 Hiến Pháp Việt Nam 1992 đã ghi rõ: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự.
Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh.” Điều 9 - Bộ luật tố tụng hình sự 2003 cũng tiếp tục khẳng định “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.” Nhƣ vậy việc xác định sự thật vụ án bao gồm đồng thời hai việc: “Làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo” (Điều 10, Bộ luật tố tụng hình sự 2003). Xác định sự thật vụ án là trách nhiệm của các cơ quan tố tụng hình sự nhƣ Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án. Pháp luật về bồi thƣờng nhà nƣớc của nhiều quốc gia cũng khẳng định thẩm quyền xác định một ngƣời bị oan trong hoạt động tố tụng (trong đó có tố tụng hình sự) cũng chính là các cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự. Ví dụ pháp luật của cả ba nƣớc Pháp, Hoa Kỳ, Trung Quốc đều quy định căn cứ xác định một ngƣời bị oan là phán quyết của Tòa án có thẩm quyền.
15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Pháp luật thực định về tố tụng hình sự của Việt Nam hiện hành cũng quy định trong nhiều văn bản liên quan về yếu tố xác định một ngƣời bị oan. Theo đó căn cứ này là những phán quyết của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự. Đây vừa là quyền, vừa là trách nhiệm của các cơ tiến hành tố tụng hình sự; còn ngƣời bị oan, họ có quyền nhƣng không có nghĩa vụ phải chứng minh sự oan khuất của mình. Chẳng hạn Điều 10 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng.
Bị can, bị cáo có quyền nhƣng không buộc phải chứng minh là mình vô tội.