Tổng quan nghiên cứu

Hàng năm, hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam thụ lý và đưa ra xét xử sơ thẩm hơn 80.000 vụ án hình sự, trong đó trên 90% các phán quyết chịu ảnh hưởng mang tính định hướng trực tiếp từ Thẩm phán chủ tọa phiên tòa. Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị đã xác định rõ Tòa án giữ vị trí trung tâm trong hệ thống tư pháp và hoạt động xét xử là trọng tâm của công tác cải cách tư pháp. Khâu đột phá của tiến trình này là việc mở rộng, nâng cao chất lượng tranh tụng dân chủ, bình đẳng tại các phiên tòa xét xử.

Vấn đề nghiên cứu cốt lõi của đề tài tập trung vào việc làm rõ địa vị pháp lý, vai trò thực tế và các quyền năng tố tụng của Thẩm phán trong việc bảo đảm công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo tinh thần Hiến pháp năm 2013. Mục tiêu cụ thể là phân tích các mô hình tố tụng hình sự, đánh giá toàn diện những thành tựu và hạn chế trong hoạt động áp dụng pháp luật của Thẩm phán, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện thể chế tư pháp hình sự.

Phạm vi nghiên cứu bao quát tiến trình lịch sử 70 năm lập pháp tư pháp từ năm 1945 đến năm 2016, tập trung chuyên sâu vào giai đoạn thi hành Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 ở cấp độ xét xử sơ thẩm. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi trực tiếp góp phần nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ 4 ngạch Thẩm phán, hướng tới mục tiêu giảm tỷ lệ các bản án bị hủy, sửa do lỗi chủ quan của Thẩm phán xuống dưới mức 1,5%, đồng thời bảo đảm 100% các phiên tòa sơ thẩm được tổ chức theo đúng nguyên tắc tranh tụng dân chủ và công minh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng đồng thời hai hệ thống lý thuyết nền tảng trong khoa học luật tố tụng hình sự thế giới: Mô hình tố tụng thẩm vấn (Inquisitorial Model) bắt nguồn từ truyền thống Civil Law của các quốc gia Châu Âu lục địa như Pháp, Đức và Liên Xô trước đây; Mô hình tố tụng tranh tụng (Adversarial Model) đặc trưng của truyền thống Common Law tại các quốc gia như Anh, Hoa Kỳ; cùng Mô hình tố tụng hỗn hợp đang được áp dụng tại các nền tư pháp hiện đại.

Các khái niệm then chốt được phát triển xuyên suốt công trình gồm:

  1. Thẩm phán: Chức danh tư pháp cao cấp được bổ nhiệm theo quy định tại Điều 88 Hiến pháp năm 2013 để nhân danh Nhà nước thực hiện quyền tư pháp và chức năng xét xử vụ án hình sự.
  2. Vai trò của Thẩm phán: Tổng thể các quyền hạn, nghĩa vụ pháp lý và tư cách điều khiển toàn bộ tiến trình tố tụng, giữ vị trí trung tâm nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án.
  3. Tính độc lập tư pháp: Nguyên tắc hiến định quy định Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập, chỉ tuân theo pháp luật theo khoản 2 Điều 103 Hiến pháp năm 2013.
  4. Tranh tụng tại phiên tòa: Cơ chế đối thoại, tranh biện dân chủ, bình đẳng giữa bên thực hành quyền công tố và bên bào chữa dưới sự điều hành khách quan của chủ tọa phiên tòa.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu nghiên cứu bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật qua các thời kỳ lịch sử từ Sắc lệnh 13/SL ngày 24/01/1946, Sắc lệnh 85/SL năm 1950, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988, năm 2003 đến năm 2015; cùng các tài liệu tổng kết thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân tối cao.

Về cỡ mẫu nghiên cứu, tác giả tiến hành khảo sát và đánh giá trên cỡ mẫu gồm 150 hồ sơ vụ án hình sự sơ thẩm được giải quyết tại các Tòa án nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh và 45 báo cáo tổng kết thực tiễn ngành Tòa án trong khung thời gian 10 năm từ năm 2005 đến năm 2015. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên theo 3 vùng địa lý đại diện (miền Bắc, miền Trung, miền Nam) nhằm phản ánh trung thực thực trạng xét xử ở các cấp Tòa án địa phương.

Lý do lựa chọn phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng mác-xít kết hợp phân tích luật học so sánh, tổng hợp thống kê và logic pháp lý là nhằm đối chiếu một cách khoa học các mô hình tư pháp tiên tiến trên thế giới với thực tiễn lịch sử, truyền thống văn hóa pháp lý Việt Nam, từ đó bảo đảm các luận cứ và giải pháp đề xuất có tính khả thi và tương thích cao với điều kiện kinh tế - xã hội trong nước. Toàn bộ quá trình thu thập và xử lý dữ liệu được tiến hành liên tục trong 24 tháng từ năm 2014 đến đầu năm 2016.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử theo Điều 176 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, có khoảng 18% đến 22% số vụ án hình sự phải ra quyết định trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung xuất phát từ việc nghiên cứu hồ sơ chưa thấu đáo của Thẩm phán. Trong số đó, có tới hơn 35% trường hợp trả hồ sơ không đúng căn cứ pháp luật hoặc trả lặp lại vi phạm giới hạn không quá 2 lần theo quy định tại khoản 2 Điều 121 của Bộ luật.

Thứ hai, tại các phiên tòa sơ thẩm hình sự, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa vẫn đảm nhiệm tới hơn 75% khối lượng câu hỏi xét hỏi, dẫn đến tình trạng Thẩm phán vừa làm nhiệm vụ xét xử vừa lấn sân sang chức năng buộc tội của Kiểm sát viên, làm giảm đi 50% tính chủ động tranh luận của người bào chữa.

Thứ ba, việc thực hiện thủ tục kiểm tra căn cước và giải thích quyền, nghĩa vụ cho những người tham gia tố tụng theo Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chỉ được thực hiện đầy đủ tại khoảng 45% đến 50% các phiên tòa cấp huyện do áp lực giải quyết trung bình 15 đến 20 vụ án mỗi tháng trên một Thẩm phán.

Thứ tư, tính độc lập trong xét xử của Thẩm phán vẫn chịu những tác động nhất định từ quan hệ hành chính nội bộ, khi có khoảng 30% Thẩm phán còn mang tâm lý thỉnh thị nghiệp vụ Tòa án cấp trên hoặc phụ thuộc vào sự chỉ đạo phân công của lãnh đạo đơn vị trước khi ra bản án.

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên bắt nguồn từ ảnh hưởng sâu đậm của mô hình tố tụng thẩm vấn thời kỳ Xô Viết, sự quá tải khối lượng công việc và cơ chế bổ nhiệm nhiệm kỳ Thẩm phán 5 năm theo quy định cũ, tạo tâm lý e ngại bị hủy án hoặc sửa án. Khi so sánh với nền tư pháp Hoa Kỳ (nơi Bồi thẩm đoàn 12 thành viên quyết định tội danh và Thẩm phán được bổ nhiệm trọn đời) hay nền tư pháp Pháp (nơi Thẩm phán có quyền bất khả bãi miễn theo Điều 64 Hiến pháp Pháp), chế độ tư pháp Việt Nam cần phải thiết lập các rào cản pháp lý vững chắc hơn để bảo vệ quyền tự chủ của Thẩm phán.

Các phát hiện thực tiễn này có thể được trình bày rõ nét qua một bảng tổng hợp đối chiếu thẩm quyền của Thẩm phán qua 4 giai đoạn lập pháp (1946, 1988, 2003, 2015) và một biểu đồ tròn mô tả sự mất cân đối về thời lượng xét hỏi tại phiên tòa: Hội đồng xét xử chiếm 75% thời lượng, trong khi phần tranh luận đối đáp giữa Kiểm sát viên và Luật sư chỉ chiếm 25%. Ý nghĩa của kết quả nghiên cứu là cung cấp cơ sở khoa học để chuyển trọng tâm đánh giá chứng cứ từ hồ sơ giấy sang kết quả tranh tụng trực tiếp tại phiên tòa.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật tố tụng hình sự nhằm bảo đảm tính độc lập tuyệt đối cho Thẩm phán. Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội cần ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, loại bỏ 100% các thủ tục mang tính chất can thiệp hành chính vào quá trình ra phán quyết của Thẩm phán trong lộ trình giai đoạn 2016-2020.

Thứ hai, cải cách cơ chế bổ nhiệm và chế độ đãi ngộ đối với chức danh Thẩm phán. Tòa án nhân dân tối cao cần tham mưu xây dựng lộ trình nâng thời hạn nhiệm kỳ Thẩm phán lên 10 năm hoặc áp dụng chế độ bổ nhiệm đến tuổi nghỉ hưu, đồng thời tăng mức phụ cấp trách nhiệm nghề nghiệp thêm từ 30% đến 50% trong giai đoạn 2017-2022 nhằm tạo tâm lý an tâm, giữ vững bản lĩnh nghề nghiệp khi xét xử.

Thứ ba, đổi mới quy trình điều khiển phiên tòa theo hướng nâng cao chất lượng tranh tụng. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần ban hành Nghị quyết hướng dẫn Thẩm phán chuyển giao ít nhất 80% nghĩa vụ xét hỏi làm rõ chứng cứ buộc tội và gỡ tội cho Kiểm sát viên và Luật sư, phấn đấu đạt tỷ lệ 95% các phiên tòa sơ thẩm diễn ra thực chất, dân chủ từ năm 2018.

Thứ tư, chuẩn hóa công tác đào tạo kỹ năng nghiệp vụ xét xử và kỹ năng viết bản án hình sự. Học viện Tòa án phối hợp với Học viện Tư pháp tổ chức đào tạo lại 100% Thẩm phán sơ cấp và trung cấp về kỹ năng điều hành tranh tụng, kỹ năng giải thích quyền tố tụng theo Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP, duy trì định kỳ ít nhất 2 khóa bồi dưỡng chuyên sâu mỗi năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội thẩm nhân dân đang công tác tại hơn 700 Tòa án nhân dân cấp huyện và 63 Tòa án nhân dân cấp tỉnh trên toàn quốc. Công trình giúp trau dồi kỹ năng điều khiển phiên tòa, khắc phục các sai sót khi trả hồ sơ điều tra bổ sung và nâng cao chất lượng bản án sơ thẩm.

Nhóm 2: Các chuyên gia lập pháp, đại biểu Quốc hội và cán bộ nghiên cứu tại Ban Nội chính Trung ương, Tòa án nhân dân tối cao. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn qua 3 chương chuyên khảo để phục vụ công tác xây dựng, sửa đổi các đạo luật tư pháp.

Nhóm 3: Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự tại các cơ sở đào tạo luật lớn. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị với hơn 50 nguồn trích dẫn chuyên sâu về lịch sử và lý luận tư pháp.

Nhóm 4: Luật sư và người tập sự hành nghề luật sư thuộc 63 Đoàn Luật sư trên toàn quốc. Tài liệu hỗ trợ nắm bắt phương pháp làm việc và tư duy đánh giá chứng cứ của chủ tọa, từ đó nâng cao hiệu quả tranh tụng tại phiên tòa lên hơn 25%.

Câu hỏi thường gặp

Thẩm phán có được trả hồ sơ để điều tra bổ sung quá 2 lần trong giai đoạn chuẩn bị xét xử không? Theo khoản 2 Điều 121 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và Điều 174 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Tòa án chỉ được trả hồ sơ để điều tra bổ sung không quá 2 lần. Trường hợp Viện kiểm sát không đáp ứng các yêu cầu điều tra lần 1 mà không có lý do chính đáng, Tòa án có quyền trả lần thứ 2 nhưng tuyệt đối không được trả lần thứ 3 để tránh kéo dài việc tạm giam quá 120 ngày.

Nguyên tắc độc lập xét xử của Thẩm phán được pháp luật bảo đảm như thế nào? Nguyên tắc này được quy định tại khoản 2 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 và Điều 9 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014. Mọi hành vi can thiệp của cơ quan, tổ chức, cá nhân vào hoạt động xét xử của Thẩm phán đều bị nghiêm cấm. Tòa án cấp trên chỉ có quyền giải thích nghiệp vụ chung nhằm thống nhất áp dụng pháp luật, tuyệt đối không được chỉ đạo đường lối xử lý đối với vụ án cụ thể.

Mô hình tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay thuộc hệ thống nào? Việt Nam áp dụng mô hình tố tụng kết hợp, lấy nền tảng là mô hình thẩm vấn truyền thống và tích hợp các yếu tố tiến bộ của mô hình tranh tụng theo Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005. Tòa án giữ vai trò trung tâm và phán quyết phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng công khai, dân chủ tại phiên tòa.

Thẩm phán có quyền xét xử bị cáo theo điều khoản nặng hơn mức Viện kiểm sát truy tố không? Căn cứ Điều 196 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Tòa án có quyền xét xử bị cáo theo khoản khác trong cùng một điều luật hoặc tội danh khác nhẹ hơn. Tòa án không được tự ý xét xử tội danh nặng hơn bản cáo trạng mà phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong thời hạn luật định 15 ngày.

Thẩm phán Việt Nam khác gì so với Thẩm phán trong hệ thống tư pháp phương Tây? Tại các quốc gia theo hệ thống Common Law như Hoa Kỳ, Thẩm phán đóng vai trò trọng tài thụ động và Bồi thẩm đoàn gồm 12 người quyết định có tội hay không. Ngược lại, Thẩm phán Việt Nam trực tiếp cùng Hội thẩm nhân dân tham gia Hội đồng xét xử 3 hoặc 5 thành viên, chủ động xét hỏi và quyết định cả tội danh lẫn hình phạt.

Kết luận

  • Luận văn đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận, bản chất pháp lý và vị trí trung tâm của Thẩm phán trong nền tư pháp hình sự Việt Nam suốt 70 năm lịch sử lập pháp từ năm 1945.
  • Phân tích toàn diện sự tác động của 2 mô hình tố tụng thẩm vấn và tranh tụng đối với việc thực thi thẩm quyền của Thẩm phán tại phiên tòa sơ thẩm.
  • Nhận diện chính xác 4 nhóm vướng mắc thực tiễn trong công tác nghiên cứu hồ sơ, trả hồ sơ điều tra bổ sung và bảo đảm tính độc lập khi xét xử.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ về hoàn thiện pháp luật, nâng cao chế độ đãi ngộ, cải tiến quy trình tranh tụng và đào tạo hơn 6.000 Thẩm phán trên cả nước.
  • Khẳng định nâng cao vai trò của Thẩm phán gắn liền với mở rộng tranh tụng dân chủ là đòi hỏi tất yếu của tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền theo Hiến pháp năm 2013.

Đóng góp khoa học lớn nhất của luận văn là cung cấp khung luận cứ chuyên khảo vững chắc phục vụ công cuộc đổi mới tổ chức và hoạt động của ngành Tòa án theo Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Trong giai đoạn 2016-2025, các cơ quan lập pháp và cơ quan xét xử cần đẩy nhanh tiến độ thể chế hóa các giải pháp nêu trên. Đội ngũ Thẩm phán và các nhà khoa học pháp lý hãy tích cực nghiên cứu, ứng dụng những phát hiện của công trình này để phụng sự công lý, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa.