Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA THẨM PHÁN TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1. Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng hình sự 1. Khái niệm vai trò của Thẩm phán Theo “Đại từ điển tiếng việt” của tác giả Nguyễn Như Ý (chủ biên) và một số đồng tác giả khác thì vai trò được hiểu như sau “Vai trò, chức năng, tác dụng của cái gì, hoặc của ai đó trong sự vận động, phát triển của nhóm, tập thể nói chung” [54, tr. Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật.
Hiến pháp giao nhiệm vụ xét xử cho cơ quan Tòa án nhân dân và Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tòa án nhân dân thực hiện chức năng xét xử của mình thông qua các Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân. Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân năm 2002 quy định: “Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc Thẩm quyền của Tòa án” [49, Điều 1]. Thẩm phán là người thay mặt cho Tòa án thực hiện chức năng xét xử, vì vậy thông qua hoạt động xét xử của mình thì Thẩm phán cũng góp phần về việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của nhân dân. Hoạt động của Thẩm phán là một trong những yếu tố quyết định đến chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp.
Trong quá trình tố tụng, vai trò của Thẩm phán là rất quan trọng, thậm 10 chí có thể cho rằng họ có vai trò gần như quyết định đến chất lượng trong quá trình tranh tụng. Mặc dù Thẩm phán không trực tiếp tham gia với tư cách là một chủ thể, nhưng với tư cách là người đại diện cho Nhà nước trong việc thực thi công lý, Thẩm phán còn có vai trò là trọng tài, là người hướng dẫn cho các bên đương sự thực hiện quyền tranh tụng theo đúng quy định của pháp luật. Thông qua kết quả tranh tụng, Thẩm phán đánh giá nội dung thực chất của vụ án, các chứng cứ, trên cơ sở đó căn cứ các quy định của pháp luật để ra một Bản án đúng đắn. Ngoài ra Thẩm phán còn thể hiện vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho nhân dân thông qua hoạt động xét xử.
Thẩm phán đã thay mặt cho Tòa án nhân dân giáo dục công dân chấp hành nghiêm pháp luật, đồng thời phát huy tác dụng phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm. Hoạt động tố tụng hình sự được chia ra nhiều giai đoạn khác nhau, tương ứng với mỗi giai đoạn đó có các cơ quan tiến hành tố tụng khác nhau. Các cơ quan tiến hành tố tụng gồm có: Cơ quan Điều tra, Viện Kiểm sát, Toà án và trong mỗi cơ quan tiến hành tố tụng, pháp luật quy định những người có thẩm quyền thực hiện các hành vi tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Và những người đó được gọi là những người tiến hành tố tụng với địa vị pháp lý và vai trò hoạt động rất khác nhau.
Những người tiến hành tố tụng này có chức năng nhiệm vụ và quyền hạn riêng nhưng đều có trách nhiệm là phát hiện nhanh chóng chính xác và xử lý công minh, kịp thời, khách quan mọi hành vi phạm tội, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Tại Toà án, những người tiến hành tố tụng gồm có: Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký toà án. Điều 66 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 thì Thẩm phán có 4 ngạch gồm: Thẩm phán TANDTC, Thẩm phán cao cấp, Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp. Hoạt động xét xử của Thẩm phán được coi là một nghề đó là nghề xét xử.
Thẩm 11 phán đại diện cho quyền lực tư pháp, quyền lực nhà nước, nhân danh nhà nước là "tượng trưng cho khát vọng của mọi tầng lớp, giai cấp trong xã hội về chân, thiện, mỹ về một hệ thống tiêu chí đạo đức: sống làm người” [39, tr. Thẩm phán là một chức danh tư pháp, theo Giáo sư, Tiến sỹ Võ Khánh Vinh: "Chức danh tư pháp bao gồm những người thực thi nhiệm vụ trong các cơ quan tư pháp (điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án) được đào tạo kỹ năng thực hành nghề và hành nghề theo một chuyên môn nhất định, có danh xưng, được bổ nhiệm hoặc thừa nhận theo pháp luật khi đáp ứng đẩy đủ các tiêu chuẩn và điều kiện xác định theo quy định của pháp luật" [53, tr. Do vậy, chức danh tư pháp theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam bao gồm: Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Thư ký toà án, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên. Trong các chức danh tư pháp thì Thẩm phán được xác định là một chức danh tư pháp quan trọng và có vai trò quyết định đến việc thực hiện quyền tư pháp.
Nghị Quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó xác định trọng tâm là xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân và nâng cao kỹ năng thực hành nghề nghiệp của Thẩm phán. Từ những phân tích trên, chúng ta có thể rút ra khái niệm Thẩm phán như sau: “Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc Thẩm quyền của Tòa án” Từ khái niệm trên thì vai trò của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng hình sự được thể hiện ở những điểm cơ bản sau: Một là: Những quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong tố tụng hình sự. 12 Hai là: Những quy định của pháp luật về vị trí, vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự. 1) Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán được quy định tại khoản 2 Điều 103 Hiến pháp năm 2013; Điều 65, 76 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014; Điều 39 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (Điều 45 Bộ luật tố tụng hình sự sửa đổi năm 2015); Điều 11, 12, 13, 14, 15, 16 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân năm 2002.
Nhiệm vụ và quyền hạn của Thẩm phán về nguyên tắc phải được xác định đầy đủ trên cơ sở vai trò, vị trí, chức năng nhiệm vụ của Thẩm phán trong tố tụng hình sự. Mặt khác, chúng phải được pháp luật quy định cụ thể rõ ràng và chặt chẽ. Có như vậy mới đảm bảo cho Thẩm phán hoàn thành hiệu quả nhiệm vụ xét xử của mình, tránh tình trạng tuỳ tiện hay lạm dụng quyền hạn trong thực tiễn xét xử. Nhiệm vụ quyền hạn của Thẩm phán trong mỗi một giai đoạn lịch sử cụ thể cũng cần có những thay đổi cho phù hợp với tình hình thực tế song vẫn dựa trên những nguyên tắc chung của tố tụng hình sự và nhằm mục đích là thực hiện chức năng xét xử theo quy định của pháp luật.
2) Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động tư pháp hình sự Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành, thì tại phiên toà sơ thẩm hình sự, Chủ tọa phiên toà vừa là người tiến hành tố tụng vừa là người điều khiển toàn bộ hoạt động tố tụng tại phiên tòa của những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng khác. Với vai trò là người tiến hành tố tụng, chủ tọa phiên tòa phải thực hiện đầy đủ, chính xác các công việc mà Bộ luật tố tụng hình sự quy định đối với chủ tọa phiên tòa, đồng thời chịu trách nhiệm chính về những vấn đề Bộ luật tố tụng hình sự quy định đối với Hội đồng xét xử, thay mặt Hội đồng xét xử công 13 bố những quyết định đã được thông qua trong phòng nghị án cũng như tại phòng xử án. Với vai trò của người điều khiển phiên tòa, chủ tọa phiên tòa phải là người tổ chức, người chỉ huy cao nhất đối với mọi hoạt động tố tụng và hành vi tố tụng tại phòng xử án. Thông qua hoạt động xét xử của mình mỗi một phán quyết của Thẩm phán có thể dẫn tới chỗ công dân, pháp nhân được hưởng quyền và lợi ích hoặc phải gánh chịu các nghĩa vụ nhất định, sai lầm trong hoạt động xét xử của Thẩm phán sẽ dẫn đến tình trạng xử oan, sai, nhất là trong lĩnh vực hình sự.
Điều này không chỉ ảnh hưởng đến một cá nhân mà có thể làm giảm lòng tin của quần chúng nhân dân vào sự công bằng của xã hội, vào pháp luật của Nhà nước ta. Thông qua hoạt động xét xử của Thẩm phán cũng góp phần vào việc bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự, nhân phẩm của công dân. Trong hoạt động xét xử để đưa ra được một phán quyết đúng pháp luật, Thẩm phán phải am hiểu về pháp luật, có hiểu biết về kiến thức xã hội, nắm bắt tâm lý của từng cá thể và có lương tâm của Người thẩm phán "Cơ sở của các phán quyết là pháp luật, nhưng kết quả của các phán quyết có công bằng, vô tư và khách quan hay không đòi hỏi mỗi Thẩm phán phải có cái tâm trong sáng" [26, tr. Thẩm phán phải có niềm tin nội tâm, đó là niềm tin vào công lý.
Bởi vì, trong quá trình xét xử Thẩm phán cũng sẽ không bao giờ dự liệu hết được mọi tình huống xảy ra trong thực tế. Có những quy định của pháp còn xung đột, không thống nhất, song khi xét xử Thẩm phán vẫn phải đảm bảo nguyên tắc xét xử đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Tòa án không chỉ là cơ quan bảo vệ pháp luật mà còn là biểu tượng của 14 công lý, sự công bằng xã hội "Khi phải đối mặt với quan tòa, với công đường người dân chờ đợi sự công minh, sáng suốt. Tòa án là người đại diện của công lý và quan tòa là cán cân công lý" [8, tr.